Sống mãi những linh hồn bất tử (Phần cuối)

Tháng Hai 14, 2012 Bình luận đã bị tắt

(VOV) – Ngót 40 năm đã trôi qua, thế hệ hôm nay và mai sau không bao giờ quên công lao của những người đi trước, bởi hòa bình hôm nay là xương máu của cha ông.

Ngót 40 năm đã trôi qua kể từ khi nhà tù Phú Quốc kết thúc sứ mệnh lịch sử đen tối của nó. Ngót 40.000 tù nhân cộng sản trở về, tiếp tục sống, cống hiến cho công cuộc đổi mới đất nước. Những vết thương trên thịt da đã lành. Những nỗi đau tinh thần cũng dần nguôi ngoai.

Nhưng ký ức kinh hoàng về những năm tháng đau thương nơi “địa ngục trần gian” ấy đêm đêm vẫn dội về trong những giấc mơ làm buốt lòng những người còn sống. Để rồi, suốt 20 năm qua, những cựu tù Phú Quốc đã lặn lội khắp trong Nam ngoài Bắc, tìm kiếm, sưu tầm những kỷ vật, di vật của một thời đau thương mà anh hùng đó, tạo nên một bảo tàng “độc nhất vô nhị” ở Việt Nam: Bảo tàng chiến sĩ cách mạng bị địch bắt, tù đày.

Tái hiện “địa ngục trần gian”…

Các đồng chí lãnh đạo Trung ương viếng các liệt sĩ

Bảo tàng chiến sĩ cách mạng bị địch bắt và tù đày toạ lạc trên khu đất rộng 1.600 m2 của ông Lâm Văn Bảng, một cựu tù Phú Quốc. Hơn 10 phòng truyền thống với gần 2.000 hiện vật và hàng chục mô hình diễn tả cảnh tra tấn dã man của bọn cai ngục được tái hiện một cách chân thực và sống động.

Hai trong số những kỷ vật thiêng liêng của các chiến sĩ cách mạng trong nhà tù Phú Quốc là lá cờ Đảng nhỏ bằng bàn tay và tấm chân dung Hồ Chủ tịch được làm từ mảnh vải trên đình màn.

Các chiến sĩ cách mạng đã dùng máu của mình để nhuộm thắm màu cờ và chân dung Bác. Hình búa liềm ở giữa lá cờ được tạo nên từ những viên thuốc ít ỏi mà các chiến sĩ cách mạng có được, mài ra, pha thành màu để vẽ. Những buổi sinh hoạt chi bộ trong phòng giam, lá cờ Đảng là một trong những vật bị bọn cai ngục lùng sục, truy tìm nhiều nhất. Bởi có cờ là có Đảng. Có cờ là người tù sẽ đứng trong tổ chức để đấu tranh.

Ngày ấy, để bảo toàn lá cờ Đảng, tù nhân trẻ tuổi Nguyễn Văn Dư đã cuộn nhỏ lá cờ vào túi ni lông, dùng sợi chỉ buộc vào răng rồi nuốt xuống họng mỗi khi bị địch lục soát. Khi địch bỏ đi, anh lại lôi ra treo ngay ngắn trên tường để truyền thêm lửa đấu tranh cho anh em trong tù ngục.

Dưới lá cờ thiêng ấy, những người tù cộng sản đã vượt qua bao ngón đòn tra tấn tàn độc, đấu tranh và giành chiến thắng. Có tên giám thị khét tiếng tàn ác, trước ý chí kiên cường của các tù nhân Phú Quốc, đã phải thốt lên: “Thượng đế thật bất công khi bắt tôi phải giam cầm, đánh đập những con người mà tôi kính phục”.

Hơn 30 năm có lẻ, màu máu trên lá cờ thiêng nay đã ngả màu nâu đất mẹ nhưng trong mỗi trái tim của những cựu tù Phú Quốc, màu cờ ấy vẫn đỏ tươi. Sau này, ông Dư đã trao lại lá cờ thiêng cho ông Bảng với lời dặn dò tha thiết: “Cờ Đảng là báu vật của chiến sỹ cách mạng tù đày, phải khó khăn lắm tôi mới giữ gìn được, nay gửi vào bảo tàng để giữ lại linh hồn của đồng đội đã ngã xuống trong chiến tranh”.

Ông Bảng xúc động bảo: “Đây là hiện vật quý báu nhất vì chứng kiến rất nhiều lễ kết nạp Đảng trong ngục tù Phú Quốc và từng thấm máu nhiều đồng đội. Nó giúp chúng tôi nuôi ý chí đấu tranh và là minh chứng cho lòng trung thành của người cộng sản. Những hiện vật khác như cờ Đoàn, sách học chính trị, tài liệu tuyên truyền của Đảng; bộ cờ tướng làm bằng gỗ sơn tà ngoài đảo (đánh cờ là cái cớ cho đồng đội hội họp, học tập); cả những kỷ vật riêng như chiếc bấm móng tay… mỗi kỷ vật đều gắn với một câu chuyện cảm động”.

Bên những kỷ vật vô giá của đồng đội, bảo tàng ở làng Nam Quất còn trưng bày những chứng tích cuộc chiến tranh phi nghĩa của đế quốc Mỹ. Đó là quả bom càng rải xuống cầu Giẽ (Phú Xuyên); là chiếc chảo nước sôi kẻ thù luộc chín tù nhân; là chiếc cùm chân, gậy sầu đời, vồ ly biệt, roi cá đuối, cả những chiếc đinh mười to như ngón tay mà kẻ thù từng đóng vào đầu, lên thân hình biết bao tù nhân…

Hơn 2.000 ngôi mộ liệt sỹ vô danh

Thật cảm động khi thấy những hiện vật từng gắn bó với chiến sĩ như chiếc ca múc nước, cà mèn đựng cơm, chiếc xẻng mòn – dụng cụ dùng đào hầm vượt ngục. Nhưng cũng vô cùng căm phẫn khi nhìn bức ảnh lính Mỹ tra tấn tù binh bằng những công cụ dã man nhất. Đó là bằng chứng của tội ác Mỹ đã gây ra tại Việt Nam…

Thông điệp gửi đến mai sau

Từ nhiều năm nay, thăm Bảo tàng chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày đã trở thành những buổi học ngoại khoá của nhiều học sinh, sinh viên trong cả nước.  Những căn phòng trưng bày dẫu còn rất đơn sơ.

Hai mươi lăm hướng dẫn viên không chuyên, vốn là những cựu tù Phú Quốc. Họ, dẫu sức khoẻ đã cùn mòn, tiền trợ cấp rất nhỏ, song vì nặng lòng với đồng chí, đồng đội đã hy sinh mà đã toả khắp mọi miền để sưu tầm hiện vật. Họ gom về đây để sẻ chia những kỷ niệm đau thương mà anh hùng của một thời tranh đấu.

Họ kể cho khách tham quan về những gian khổ ngục tù chốn địa ngục trần gian, về những cái chết bi tráng của hơn 4.000 người tù cộng sản dạ sắt gan vàng. Kể để thấy được giá trị của hoà bình. Kể để những hệ luỵ của cuộc chiến nguôi ngoai đi cùng năm tháng và để phẩm chất người Việt Nam mãi sáng ngời. Đó là phẩm chất mà cố nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã ngợi ca trong bài thơ Quê hương: “Đất nghèo nuôi những anh hùng/ Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên/ Đạp quân thù xuống bùn đen/ Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa”.

Đó cũng là nỗi niềm mà ông Lâm Văn Bảng tâm sự với chúng tôi trong buổi chiều thật muộn: “Hơn hai mươi năm qua, kể từ khi xây cất bảo tàng này, chúng tôi chưa hề thu một đồng phí tham quan nào. Cuộc hành trình hơn hai mươi năm ấy chỉ với mục đích là đi tìm và khắc họa lại những gian khổ, hy sinh của chiến sĩ cách mạng Việt Nam trong cuộc chiến vĩ đại để giành độc lập cho dân tộc. Những hiện vật trưng bày tại bảo tàng chính là thông điệp mà chúng tôi, những người đi trước, muốn nói với thế hệ hôm nay và mai sau rằng: Hòa bình hôm nay là xương máu của cha ông, hãy trân trọng!”.

Những năm qua, Bảo tàng chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày đã đón khoảng 10 vạn lượt khách, trong đó có nhiều đoàn của các cơ quan Đảng, Nhà nước, cựu chiến binh, thanh niên, các thầy cô giáo và học sinh… trên mọi miền Tổ quốc về tham quan, tìm hiểu lịch sử truyền thống cách mạng.

Khách đến bảo tàng đều bày tỏ lòng khâm phục trước việc làm cao cả đầy ý nghĩa của những người lính già nặng lòng với đồng đội. Riêng với những người vào sinh ra tử như ông Bảng thì coi đó là việc làm tất yếu. Ông Bảng “khoe”: Chúng tôi đã mang hiện vật đi trưng bày ở nhiều nơi như Thái Nguyên, Hà Nam, Hà Tĩnh đến Quảng Ninh, Hải Phòng, Nha Trang…

CTV H.A.S/VOV Online

vov.vn

Vừa nhặt xương người vừa khóc (Phần 7)

Tháng Hai 14, 2012 Bình luận đã bị tắt

(VOV) – Ở hầm mộ thứ nhất, khi đào đến tầng xương thứ 6, có người bật khóc khi thấy đầu của các anh ấy một bên, xương cốt một bên. Hỏi chuyện mới biết: sau khi địch tra tấn các anh đến chết, chúng lôi xác ra miệng hố, dùng xẻng chặt đứt đầu rồi lăng xuống…

Chúng tôi có mặt tại Phú Quốc vào đúng giai đoạn cao điểm của cuộc khai quật, tìm kiếm những hầm mộ liệt sĩ lớn nhất trong lịch sử. Hai chiếc máy xúc khổng lồ ầm ào bạt đồi, đào bới suốt ngày đêm khiến vạt rừng nguyên sinh bao năm thâm u, nay ồn ã như một đại công trường.

Trung tá Nguyễn Văn Cao, đội phó đội K.92, tỉnh Kiên Giang, khuôn mặt gầy guộc lấm lem bụi đất nói với tôi mà như gào to giữa tiếng động cơ ầm ầm: “Chưa bao giờ đội K.92 phải huy động nhiều máy móc như thế này. Vì hài cốt nằm chồng chất tầng tầng lớp lớp dưới lòng đất sâu đến 6 – 9 m, bên trên lại toàn đất đá sỏi nên cuốc xẻng không thể làm gì được. Trước khi bắt tay vào cuộc hành trình khai quật, một Ban tìm kiếm được thành lập gồm 40 đồng chí lão luyện, tinh thông nghề nghiệp nhất của đội K.92 do đích thân ông Phó Chủ tịch tỉnh Kiên Giang làm trưởng ban. Đội ngũ này đã từng lập nên kỳ tích: tìm kiếm được 1.202 hài cốt bộ đội tình nguyện Việt Nam tại chiến trường Campuchia một thời khói lửa. Chưa bao giờ Ban tìm kiếm phải họp bàn kỹ lưỡng như đợt này. Mất cả tháng trời khảo sát hiện trường, dò gỡ bom mìn, phát quang rừng rậm, xẻ bạt đồi núi. Hàng ngàn mét vuông rừng già và cây dại đã được dọn sạch một cách bất đắc dĩ”.

 Một tù nhân cộng sản bị địch mổ bụng moi gan

“Dừng lại! Dưới chân máy là 5 bộ hài cốt”. Tiếng nhà ngoại cảm Vũ Thị Minh Nghĩa gào to cắt đứt cuộc trò chuyện giữa tôi và trung tá Nguyễn Văn Cao. Các chiến sĩ trẻ đội K.92 túc trực trên miệng hầm vội nhảy ào xuống hầm mộ sâu đến 5 m, rộng hơn 100 m2. Tay cuốc, tay xẻng, họ nhẹ nhàng đào bới, và nước mắt rưng rưng khi đếm đủ 5 bộ xương người.

Ở hầm mộ thứ nhất, chị và anh em đội K.92 đã tìm được 513 hài cốt. Hầm mộ thứ 2: 508 hài cốt. Hầm mộ thứ 3: 118 hài cốt. Hầm mộ thứ 4: 80 hài cốt. Chỉ trong vòng 6 tháng, chị và đội K.92 đã tìm và cất bốc được hơn…1.000 hài cốt liệt sĩ – một “kỳ tích” khiến nhiều người chả biết nên buồn hay vui, muốn xót xa cùng các liệt sỹ hay chúc mừng “thành công” của đội K92 nữa.

Có điều, để lập nên “kỳ tích” ấy, chị và các chiến sĩ đội K.92 đã phải làm việc quần quật từ sáng sớm đến chiều muộn. Khi những chiếc máy xúc “ngoạm” những gầu đất sỏi cuối cùng, chạm đến tầng xương cốt, cũng là lúc công việc của chị và đội K.92 bắt đầu.

Tất cả mọi động tác phải hết sức nhẹ nhàng bởi lẫn vào từng thớ đất, từng nắm sỏi cát kia là những mẩu xương người. Mắt phải căng lên để nhặt xương cho kỹ, nhặt cả những thớ đất nâu mờ mờ hoa thổ. Kinh nghiệm mấy mươi năm đào bới hài cốt mách bảo chị rằng: đó là thịt xương của các chiến sĩ bị phân huỷ sau mấy chục năm đằng đẵng vùi sâu dưới lòng đất lạnh. Cho nên phải nhặt cho hết bởi để xót mẩu xương nào là có tội với tiền nhân, có tội với những anh hùng quên thân mình vì nghĩa lớn.

Mặc cho cái nắng chang chang vùng biển dội lửa xuống hầm nóng hầm hập, mặc cho sỏi đá cào rách tay, thậm chí, cả chất độc hoá học mà địch đổ xuống nhằm huỷ thân xác các tù nhân cộng sản ăn nứt bàn tay nhức buốt, da thịt sần sùi, tấy đỏ như miếng cháy của nồi cơm quá lửa, chị và các chiến sĩ đội K.92 vẫn miệt mài đào bới, nhặt nhạnh. Đi găng tay chống độc ư? Hàng ngàn đôi đã được nhân dân cả nước đóng thùng gửi ra cho các anh, các chị. Nhưng đi găng vào việc lần tìm từng mẩu xương trong đất đá sẽ rất khó vì không thật tay.

Hàng thúng hương trầm nghi ngút khói thắp khắp trên miệng hố mà sao mùi hôi nồng tử khí vẫn nồng nặc khiến một vài chiến sĩ trẻ phải nhao khỏi miệng hố, chạy vào góc rừng nôn thốc nôn tháo. Ai cũng gầy rộc đi. Có người còn bị sốt sình sịch. Nhưng không ai bỏ cuộc. Cứ cắt cơn sốt là lại nhảy xuống hầm đào.

Giơ bàn tay sưng tấy, mưng đỏ vì bị nhiễm chất độc hoá học lên gạt nước mắt, chị Năm Nghĩa vừa khóc, vừa kể: “Đau lòng lắm em ạ. Mười mấy năm đi tìm hài cốt liệt sĩ, bàn tay chị đã cất bốc hàng nghìn nấm mộ nhưng chưa ở đâu, và chưa bao giờ, hài cốt lại nhiều như ở đây. Tầng tầng lớp lớp.

Ở hầm mộ thứ nhất, khi đào đến tầng xương thứ 6, chị bỗng khóc ầm lên khi thấy đầu của các anh ấy một bên, xương cốt một bên. Hỏi chuyện các anh, mới biết: sau khi địch tra tấn các anh đến chết, chúng lôi xác ra miệng hố, dùng xẻng chặt đứt đầu rồi lăng xuống. Có hộp sọ còn dính 2 cây đinh mười cắm phập.

Ở hầm mộ thứ hai, sau khi nhặt hết lớp xương thứ 3, thì chạm vào lớp đá tảng. Các cháu ở đội K.92 bảo hết rồi. Nhưng chị bảo: Bên dưới vẫn còn xương. Nhưng đá to quá, nặng cả tấn. Sức người không thể kéo được nên phải dùng máy cẩu.

Nhìn những tảng đá sừng sững lôi lên khỏi hầm hài cốt, ai cũng lạnh sống lưng. Nó to ngần ấy, nặng ngần ấy, nện lên thi thể gầy guộc, tong teo của các tù nhân thì nát bấy như người ta giã giò còn gì hả em.

Tàn độc hơn, chúng còn đổ cả chất độc hoá học xuống hầm nhằm huỷ hoại thân xác tù nhân. Cho nên, khi đào bới, nhiều hộp sọ hay đốt xương của các anh còn nguyên. Nhưng khi vừa đụng tay vào là vỡ vụn như cám. Đúng là bọn địch tàn độc hơn cả quỷ sứ. Chúng giết các anh đến mấy lần. Chúng định huỷ hoại vĩnh viễn thân xác các anh để hậu thế mãi mãi không bao giờ tìm thấy, tội ác tày giời của chúng vĩnh viễn chìm lấp trong bóng tối. Nhưng không, chính linh hồn các anh đã mách bảo, chỉ dẫn cho chúng ta tìm thấy”.

Trung tá Nguyễn Văn Cao dẫn tôi đi dọc những triền đất đỏ vừa đào bới hàng ngàn hài cốt, anh kể về những ám ảnh rùng rợn mà có lẽ suốt đời anh chẳng thể nào quên: “Có bộ xương được “đóng” tới 16 cái đinh mười (đinh to như ngón tay), có bộ được chằng trói bằng dây thừng, dây nhựa dẻo rất tàn độc.

Gần 300 chiếc đinh được nhặt ra khỏi các xương sống, sương ống chân, ống tay, xương sọ…, khi đem giao nộp cho cán bộ văn hóa địa phương để “trưng bày”, anh em phải đựng trong chiếc thúng to đoành, oằn lưng khiêng, ai trông thấy cũng bật khóc. Có người chửi thề chí mạng vì căm phẫn. Có lẽ, bức ảnh về cái xương sọ người bị cắm đinh trong Nhà trưng bày tội ác ở Nhà tù Phú Quốc lâu nay, cũng sẽ phải… gỡ xuống để thúng đinh từng cắm vào sọ hàng trăm chiến sỹ cách mạng mới được khai quật vào “thế chỗ” thì nó mới xứng tầm.

Nhiều đêm, tôi cứ lẩn thẩn nghĩ, không biết chúng nó đóng thế nào mà đinh cắm ngần ấy chiếc vào một thi thể được nhỉ? Đinh cắm vào thịt thì nó sẽ tự rụng ra khi cơ thể người tù bị phân hủy, thế thật ra là bao nhiêu cái đinh tất cả được cắm vào thi thể người tù bị đóng nhiều đinh nhất khi chưa đem “quẳng xác” ngoài bìa rừng?”.

Hơn 2.000 hài cốt thì 1.999 hài cốt vô danh

Hơn 2.000 hài cốt được tìm thấy trong tổng số 4.000 người đã bỏ mạng ở địa ngục trần gian này, chỉ duy nhất anh Nguyễn Văn Khai (người Thanh Hóa) là có tên. Theo các cựu tù Phú Quốc, khi mà tù binh bị giết chết nhiều quá, lại sợ du kích tấn công bất ngờ, bọn cai ngục bèn bắt bạn tù của anh Khai đem đồng đội đi chôn, và một người bạn tù đã nhanh tay ghi tên Nguyễn Văn Khai rồi nhét vào túi ni lông dán kín lại.

Hôm thắp hương cho các liệt sĩ ở tượng đài Nắm Đấm, tôi đã không thể kìm được những tiếng nấc nghẹn khi nhìn bàn tay gầy guộc, chai sần của anh Cao, chị Năm Nghĩa lần giở từng gói hài cốt được bó chặt như bó giò xếp trong những chiếc hòm gỗ lớn, đánh số chi chít.

Khi còn sống, các anh đều có tên, có tuổi. Giờ nằm đây, tất cả đều vô danh, ai cũng là ai, ai cũng là người cộng sản chân chính đã sống đến giọt sống cuối cùng vì quê hương.

Nhìn ra ngoài trời, mưa giăng trắng xoá. Ngẫm về kiếp người sao cứ thấy nghèn nghẹn, mênh mang. Nhưng dẫu sao, họ vẫn may mắn hơn hàng nghìn người còn vùi thân xác đâu đó dưới lòng đất lạnh, dưới những tán rừng sâu, da thịt, xương cốt họ chỉ còn là một vệt mờ mờ hoa thổ.

Quá nhiều nhân chứng (kể cả báo cáo của Sở LĐTBXH Kiên Giang mới đây) đều chính thức nói về việc máy bay của bọn cai ngục đã chở những tù nhân đau ốm đi chữa bệnh rồi vĩnh viễn không bao giờ trở lại. Bởi những người tù xấu số ấy đã bị ném xuống đáy biển Vịnh Thái Lan làm mồi cho cá dữ. Cái việc họ trở về là bất khả.

Trong suốt cuộc hành trình tìm kiếm hài cốt tù nhân cộng sản ở Phú Quốc, 3 đại lễ cầu siêu đã được Giáo hội phật giáo Việt Nam tổ chức trọng thể và xúc động. Hàng trăm lãnh đạo cao cấp của Đảng và nhà nước, của các tỉnh, thành phố, hàng ngàn cựu tù binh và nhân dân cả nước đã đổ về Phú Quốc với niềm xúc động và xót thương vô hạn.

Các chuyến bay, các chuyến tàu ra đảo đều chạy hết công suất vẫn không chở hết dòng người nườm nượp đổ ra đảo. Chuyến nào cũng đông nghẹt. Điều kỳ lạ là cả ba lần làm lễ cầu siêu, cả ba lần trời đang nắng chang chang bỗng đổ mưa sầm sập. Mưa như trút nước, mưa như khóc than. Song không một ai trong số hàng ngàn người thành kính chắp tay nguyện cầu ấy che ô, che mũ. Họ vẫn đứng nghiêm trang, trong mưa, trước nỗi đau và niềm xót thương còn lớn hơn giông gió. Ai cũng thấu hiểu đến tận cùng nỗi đau thương, mất mát mà những người tù cộng sản kiên trung phải gánh chịu. Giờ, đội mưa, đội nắng một chút, đâu có thấm tháp gì.

Tôi đã thắt lòng khi chứng kiến những  chiếc tàu gỗ hối hả chở hàng ngàn chiếc tiểu sành từ đất liền ra đảo. Cái cảnh tấp nập trên bến dưới thuyền, hối hả khiêng vác những chiếc tiểu sành kia sao mà xúc động, xót xa đến thế.

Lúc đầu, Sở lao động thương binh xã hội tỉnh Kiên Giang mua hàng trăm chiếc tiểu chở ra đảo. Cứ nghĩ số quan quách ấy là đủ. Nhưng số lượng hài cốt tìm thấy cứ tăng vọt hàng ngày nên Sở phải huy động khắp tỉnh, xuống cả  tận Đồng Tháp Mười để thu mua rồi thuê tàu chở vượt 200 km đường biển ra đảo. Chuyện thu mua tiểu quách với số lượng khổng lồ này cũng là một “kỷ lục” rơi nước mắt ở nơi từng là “địa ngục trần gian” Phú Quốc.

Anh Cao bảo: “Ngót nửa năm giời sống ở rừng thâm u, hoang vắng tột độ này với bạt ngàn bom đạn ém lại từ thời cũ, đôi lúc nhìn rừng mà chính anh em trong đội K92 còn thoáng so mình chợn rợn. Nhưng nghĩ đến những người còn vùi xác thân giữa hoang lạnh mịt mù, lại thấy lòng mình nức nở. Vợ tôi nằm viện mấy tháng nay, phải nhờ người trông. Tôi bám trụ ngoài “chiến trường” này, vì cảm thấy trách nhiệm của mình quá lớn. Cả núi xương của những người cộng sản quả cảm đang chờ được bàn tay ấm nóng của người Việt hôm nay cất bốc. Cái vất vả của chúng tôi, có thấm tháp gì so với địa ngục trần gian kinh hoàng mà hơn 40.000 người cộng sản đã bị đày đoạ, có thấm gì so với những cái chết đau đớn, tức tưởi của hơn 4.000 người đã ngã xuống kia?”. Giọng anh Cao run rẩy, da diết.

Những ngày ở Phú Quốc, tôi đã tận mắt chứng kiến cảnh ăn ở, sinh hoạt của anh và các chiến sĩ đội K.92. Trong căn nhà quản trang bé tẹo nằm gần tượng đài Nắm Đấm, chục anh em mắc võng vào các song cửa, các cột kèo làm giường giã chiến.

Những bữa cơm đạm bạc chỉ rau với cá biển mà cái đầu thực dụng của kẻ phố thị như tôi nhẩm tính, giá trị chỉ chừng vài chục nghìn đồng. Chợ búa xa xôi, tiền bồi dưỡng chỉ vỏn vẹn 40.000 đồng/ngày nên ăn uống phải dè xẻn. Thậm chí dè xẻn với cả nước uống. Đi bộ lóc cóc vài cây số, xin được mấy can nước mưa, nên phải dùng tằn tiện. Vợ ốm, con đau trong đất liền, lòng thì thương đứt ruột nhưng cũng chỉ điện dăm ba phút động viện gọi là.

Những ngày ở Phú Quốc, tôi cũng đã nhiều lần tận mắt chứng kiến cảnh mấy anh lính trẻ, người sốt sình sịch vẫn cứ nhao ra nắng lửa, với chai nước sôi để nguội giắt ở lưng, kiên nhẫn, tỉ mẩn đào bới, lấn mãi vào các cánh rừng bom đạn cũ, lấn mãi vào lòng đất sâu rười rượi đỏ, nơi vùi lấp hàng nghìn bộ di cốt tủi hờn câm lặng.

Tôi chợt ngộ ra rằng: họ tận tuỵ, cần mẫn tìm kiếm hài cốt, không chỉ vì nhiệm vụ của một người lính mà cao hơn, họ đang xả thân vì một nghĩa cử, một món nợ ân tình mà lẽ ra chúng ta phải làm, phải trả từ lâu./.

CTV Hoàng Anh Sướng/VOV Online

vov.vn

Nhà ngoại cảm Bích Hằng và cuộc tìm kiếm 4.000 hài cốt đầy nước mắt (Phần 6)

Tháng Hai 5, 2012 Bình luận đã bị tắt

(VOV) – Cuộc tìm kiếm hơn 4.000 hài cốt tù nhân cộng sản ở nhà tù Phú Quốc, với nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng và nhiều người trong đoàn có lẽ là cuộc kiếm tìm ám ảnh và xúc động nhất.

Hé mở sự thật kinh hoàng về những hầm mộ tập thể khổng lồ

Hành trình tìm kiếm hài cốt lớn nhất trong lịch sử Việt Nam bắt đầu bằng cuộc viếng thăm của hơn một trăm cựu tù nhân Phú Quốc.

Buổi sáng hôm đó (ngày 30/4/2008), tại nghĩa trang liệt sĩ huyện đảo Phú Quốc, giữa nghi ngút khói hương, trong sụt sùi nước mắt, các cựu tù nhân nghẹn ngào kể lại những năm tháng kinh hoàng trong địa ngục trần gian.

Những căn phòng biệt giam ngột ngạt, những chuồng cọp rợn người, những ngón đòn tra tấn tàn độc, những cái chết tức tưởi của hàng ngàn bạn tù… Nhiều người bật khóc oà khi chợt nghe tiếng ai thảng thốt gọi: “Đức ơi! Trung ơi! Hoá ơi! Chúng mày có ở đây không? Anh em trại 10, trại 12 đây…”.

Đồng chí Trương Tấn Sang, uỷ viên Bộ Chính trị (thời điểm năm 2008 là Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng)-một cựu tù Phú Quốc, nghèn nghẹn nói, mắt đỏ hoe: “Chúng ta phải gắng tìm cho được hơn 4.000 hài cốt của các anh em tù, đưa họ về đây, dù chỉ là một dúm xương tàn. 35 năm nằm chìm khuất dưới cỏ hoang, đồi lạnh, không một nén hương tàn, anh em chắc tủi thân lắm”.

Nhà lao Cây Dừa với hàng trăm dãy nhà tôn san sát, trùng trùng lớp lớp hàng rào kẽm gai “đâm nát trời chiều” năm xưa giờ chỉ là vùng đất mênh mông gần 400 ha rậm rạp cối cây, cỏ lau ngút ngàn, chẳng để lại một dấu vết gì. Tìm ư? Khác gì mò kim đáy bể.

Đồng chí Nguyễn Trọng Dư, phó Giám đốc Bảo tàng chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày ở Phú Xuyên (Hà Nội), một cựu tù binh Phú Quốc, thành viên trong đoàn ra thăm viếng chợt nhớ đến nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng, người đã từng giúp gia đình ông tìm được mộ Tổ của gia tộc ở Hải Phòng. Đứng tại Nghĩa trang liệt sĩ huyện đảo Phú Quốc, ông liền bấm máy điện thoại liên lạc với Bích Hằng, ngỏ lời cầu giúp. Bích Hằng nhận lời tiếp ông ở Hà Nội.

8h sáng ngày 5/6/2008, cựu tù binh Nguyễn Trọng Dư đã có buổi làm việc với nhà ngoại cảm Bích Hằng tại số nhà 25 phố Thợ Nhuộm.

Tái hiện hình ảnh bọn cai ngục tra tấn tàn độc người tù cộng sản

Sau khi nghe ông Dư kể về nhà lao Cây Dừa, về cuộc sống của hơn 40.000 tù nhân cộng sản năm xưa, về chế độ nhà tù hà khắc, tàn độc và cái chết đau đớn của hơn 4.000 chiến sĩ cộng sản kiên trung, nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng vô cùng xúc động. Nước mắt chan chan, chị nghẹn ngào nói: “Cháu sẽ cố gắng hết sức để giúp các chú sớm tìm lại đồng đội xưa”.

Sáng 18/10/2008, nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng, ông Nguyễn Trọng Dư cùng một số người trong Ban liên lạc cựu tù binh Phú Quốc đã có mặt ở “thiên đường du lịch”.

Hôm đó cũng là ngày Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức đại lễ cầu siêu cho các liệt sĩ ở đảo và Bích Hằng là khách mời. Nhưng tạm gác lại những nghi thức của buổi đại lễ thiêng liêng ấy, Bích Hằng vội vã đến Tượng đài Nắm Đấm với mong muốn: sớm nhận được thông tin cho cuộc tìm kiếm hài cốt liệt sĩ mà theo chị dự cảm: sẽ lớn nhất trong lịch sử Việt Nam.

Song điều kỳ lạ là xe ô tô vừa đỗ trước cửa Tượng đài, Bích Hằng vừa bước chân xuống thì như có một thế lực nào huyền bí, ngăn không cho chị vào mà kéo tuốt chị đến cánh rừng rậm rạp phía trước.

Cho đến khi cánh cửa sắt lừng lững với hàng rào kẽm gai hiện ra trước mặt, chị và đoàn tìm kiếm mới dừng lại. Đây là địa phận bí mật, chứa đựng nhiều kho vũ khí của Hải quân vùng 5 nên nghiêm cấm mọi sự đột nhập.

Ông Nguyễn Trọng Dư liền rút điện thoại, trao đổi với Đại tá Ngô Văn Phát, Bí thư chính uỷ vùng 5. Đã từng đọc, nghe nhiều về nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng, thấu hiểu tâm nguyện thiêng liêng của ông Dư và đồng đội, Đại tá Ngô Văn Phát đồng ý cho đoàn vào vùng cấm, thậm chí ông còn hồ hởi nói: “Tôi tự nguyện làm người dẫn đường cho đoàn”.

Chừng 10 phút sau, Đại tá Phát có mặt cùng một chiến sĩ hải quân trẻ, trên tay cầm một chùm chìa khoá lúc lỉu và chiếc búa đinh to đoành. Đại tá cười xoà: “Các bác thông cảm. Khoá cổng này gần hai mươi năm nay không mở. Tôi sợ khoá bị hỏng nên phải mang sẵn búa đinh theo”.

Cậu hải quân trẻ sau một hồi tìm kiếm trong mớ chìa khoá lúc lỉu, bước về phía cổng sắt, nhẹ nhàng tra thìa. “Toạch”. Khoá bật mở. Mọi người đồng loạt ồ lên đầy kinh ngạc. Gần 20 mươi năm dầm mưa dãi nắng trong gió mặn mòi của biển, bình thường, chỉ một vài năm là khoá đã hoen gỉ. Vậy mà…. Một cảm giác linh thiêng chợt ùa đến khiến mọi người trong đoàn lặng đi.

“Các chú ơi! Hài cốt nhiều quá. Nằm ngang, nằm dọc, tầng tầng lớp lớp. Toàn hầm mộ tập thể các chú ơi!”. Đi bộ vào sâu trong rừng chừng 100 m, bất chợt, nhà ngoại cảm Bích Hằng kêu lên thảng thốt.

Cả đoàn như bừng tỉnh. Đâu đó bật lên tiếng sụt sùi. Tìm một bãi đất trống, trải tấm ni lông, đoàn tìm kiếm bày đặt lễ vật, thắp hương. Nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng, chắp tay thành kính, giọng run run.

Chị khấn thần núi, thần sông, thần biển, khấn vong linh các anh hùng liệt sĩ, những tù nhân cộng sản đã hy sinh thân mình vì dân, vì nước. Chợt chị reo lên: “Chú Bảy Ni về. Chú ấy muốn nói chuyện với các chú”.

Đồng chí Bảy Ni, (tức Nguyễn Văn Ni) là Bí thư Đảng uỷ phân khu B2 đã lãnh đạo phân khu đấu tranh giành thắng lợi trong việc đánh đuổi tên trung sĩ giám thị trưởng ra khỏi phân khu. Chính vì chiến công này mà ông đã bị tên Bảy Nhu tra tấn, đánh đập bằng những ngón đòn tàn độc, man rợ. Trước khi chết, ông còn hô: “Đả đảo Mỹ – Thiệu. Hồ Chí Minh muôn năm”.

Sự linh ứng kỳ lạ

Cuộc trò chuyện giữa vong linh của đồng chí Bảy Ni và đoàn tìm kiếm hài cốt kéo dài chừng một tiếng đồng hồ.

Cuộc nói chuyện vừa kết thúc, Bích Hằng đã phăm phăm vạch cây rừng chạy lên trên đồi, nơi đồng chí Bảy Ni vừa chỉ dẫn có hầm mộ số 2. Thấy vậy, trung tá Nguyễn Văn Cao, đội phó đội K92 (Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Kiên Giang), hét to: “Bích Hằng. Dừng lại. Ở đây nhiều rắn độc lắm”.

Kệ! Bích Hằng cứ phăm phăm chạy. Mọi người ùa theo. Chạy chừng 50 m, cả đoàn đứng sững lại. Cạnh ụ đất trên có mấy bao tải cát, có 3 gốc cây thông mục nằm theo thế chân kiềng. Tín hiệu mà vong linh đồng chí Bảy Ni cho hoàn toàn chính xác.

Buổi chiều hôm ấy, cả đoàn kéo đến Tượng đài (nghĩa trang) Nắm Đấm (Hình quả đấm to và cao như toà nhà ba tầng nện lên nền trời xanh vòi vọi. Đây có lẽ là quả đấm lớn nhất thế giới) thắp hương tưởng niệm các liệt sĩ.

Chính tại nơi đây, vài năm trước, khi đào móng khởi công tượng đài này, người ta đã vô tình bới được hàng trăm bộ hài cốt. Có bộ xương được “đóng” tới… 16 cái đinh mười (đinh to như ngón tay), có bộ được chằng trói bằng dây thừng, dây nhựa dẻo rất tàn độc. Hàng trăm chiếc đinh tra tấn người tù được nhặt ra khỏi các mớ xương, trung tá Nguyễn Văn Cao, đội phó đội K92 đem giao nộp cho cán bộ văn hóa địa phương để trưng bày tại Bảo tàng, ai trông thấy cũng lạnh sống lưng.

Đang thắp hương lầm rầm khấn vái, chợt Bích Hằng ngưng bặt. Mắt chị hướng về phía bãi cây vòi voi, to như cây mía, mọc lúp xúp bên phía tay phải, ngoài hàng rào nghĩa trang. Chị bảo trung tá Cao: “Ở kia có nhiều hài cốt liệt sĩ đấy anh ạ. Ngày mai là ngày phụ nữ Việt Nam 20/10. Ngày này năm ngoái, em đã tìm được mộ cụ Nguyễn Đức Cảnh – một vị tiền bối cách mạng, một trong 7 đồng chí thành lập chi bộ Đảng đầu tiên và nhận trọng trách Bí thư xứ ủy Bắc kỳ. Em muốn chào mừng ngày phụ nữ năm nay bằng cuộc tìm kiếm hài cốt liệt sĩ ở đây. Ngày mai anh cho anh em đội K.92 đào trước ở chỗ bãi cây vòi voi kia nhé”.

Quả đúng như sự chỉ dẫn của nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng, sáng hôm sau, đội K.92 đã tìm được 30 hài cốt, trong đó, có hai hài cốt vẫn bị trói chặt với nhau bằng sợi dây dù.

Niềm tin về một thế giới thiêng liêng, huyền bí trong anh em đội K.92 được củng cố, để rồi bắt đầu bước vào cuộc hành trình tìm kiếm hơn 4.000 hài cốt liệt sĩ lớn nhất, xúc động nhất trong lịch sử Việt Nam./.

CTV Hoàng Anh Sướng/VOV Online

vov.vn

Sự thật về những vụ thảm sát đẫm máu trong nhà lao Cây Dừa (Phần 5)

Tháng Hai 4, 2012 Bình luận đã bị tắt

(VOV) – Trong lịch sử tồn tại suốt chục năm đen tối của nhà tù Phú Quốc, có quá nhiều vụ thảm sát tàn khốc xảy ra, cướp đi sinh mạng của hàng ngàn tù nhân cộng sản.

Khi khói súng tan, hàng trăm xác tù nhân nằm phơi trắng mặt đất

Ngay từ năm 1965, khi những người tù cộng sản bị bắt và bị đày ra Phú Quốc, máu của họ đã đổ bởi những vụ thảm sát rất tàn bạo.

Vào một buổi sáng đầu tháng 7 năm 1965, địch cho tập hợp toàn bộ tù binh thành một hàng dài rồi bắt chào cờ ba sọc, bắt hô “Đả đảo Đảng cộng sản Việt Nam”. Những người lính kiên trung gan vàng dạ sắt đứng lặng như tượng, không ai giơ tay chào cờ, cũng chẳng ai lên tiếng.

Những người tù cộng sản gầy guộc, chỉ còn da bọc xương

Điên tiết, địch túa vào dùng dùi cui, báng súng nhằm vào đầu, vào lưng tù binh mà ghè, mà phang. Uất quá, những tù binh vốn là những người lính xông pha biết bao trận mạc, giờ bị đàn áp vô lối, máu lính nổi lên, thế là anh em vùng lên đánh trả. Tiếng hò, tiếng hét, tiếng kêu la… Địch xả súng đồng loạt.

Khi khói súng tan, một nửa tù nhân nằm sóng xoài trên đất cát, máu chảy lênh láng. Một tuần sau, mùi tanh nồng vẫn phả vào trại giam. Trưa hôm ấy, thu gom xác ra đồi 100 chôn, đếm cả thảy 78 tù nhân đã hy sinh. Anh em tù khiêng đến tận chiều tối mới hết.

Vào mùa mưa năm đó, do bọn cai ngục đối xử quá tàn tệ, vài chục người trong nhà giam bị chết do mắc bệnh kiết lỵ mà không được cứu chữa. Anh em tù quyết định tuyệt thực để đấu tranh. Tất cả tù nhân nằm lặng trong phòng, không ra sân điểm danh, cũng không cho quân cảnh vào phòng điểm danh. Tất cả những sinh hoạt bình thường đều tạm đình chỉ.

Những lần trước, tuyệt thực ba bốn hôm thì địch buộc phải nhân nhượng giải quyết. Nhưng lần này đã kéo dài đến ngày thứ 11 mà địch vẫn trơ trơ. Đã vậy, chúng còn bắc chảo ra giữa cửa trại giam xào nấu thơm lừng. Anh em trong tù nhiều người đã kiệt sức, một số người bắt đầu nao núng.

Đúng lúc cuộc đấu tranh đang rất gay go thì có phái đoàn chữ thập đỏ quốc tế đến kiểm tra. Địch vội vàng xuống nước, năn nỉ tù nhân thay đổi thái độ. Nhưng anh em tù nhân vẫn quyết không chịu ăn, đòi địch phải thực hiện đúng công ước Geneva về chính sách đối đãi với tù nhân chiến tranh. Địch không nghe. Chúng dùng vũ lực xua anh em ra rừng hòng che mắt công luận quốc tế. Các tù nhân cứ nằm lỳ, quyết không đi.

Thế là cứ dùi cui, súng ống chúng nện lên những thân hình tiều tuỵ, xơ xác. Uất quá, không cần nghe mệnh lệnh chỉ huy của Ban lãnh đạo, tù nhân nhào lên cướp vũ khí đánh lại chúng. Hoảng loạn vì bị đánh trả bất ngờ, đám quân cảnh bỏ chạy ra ngoài. Thế là, ngay lập tức, bốn khẩu đại liên ở trên bốn chòi canh xối đạn như mưa vào trong nhà giam.

Mười lăm phút sau, tiếng súng ngưng, hơn một trăm xác tù nhân được khiêng ra nghĩa địa. Khiêng suốt đêm không hết. Căn nhà giam cả tuần sau vắng lặng như bãi tha ma. Đám quân cảnh không dám bén mảng tới. Có thằng giám thị vừa lò dò đến, chợt bật lên tiếng ho của một người tù, hắn hoảng hồn hoảng vía chạy như ma đuổi.

Một buổi sáng hè năm 1967, chẳng hiểu vì lý do gì, tên giám thị đùng đùng cho lính vào phòng bắt 30 người ra phơi nắng trên giàn thiếc. Đây là kiểu tra tấn rất đỗi thô sơ mà tàn độc của bọn cai ngục Phú Quốc.

Buổi sáng, mặt trời vừa lên, nằm sấp úp mặt trên tấm tôn còn chịu được. Càng về trưa, tấm tôn càng nóng giãy như bị đốt lửa, da thịt ở bụng, ở ngực phồng rộp lên, chín đỏ như tôm luộc. Nếu cựa quậy, chúng phang thẳng cánh dùi cui, nhiều khi hứng chí, chúng rút súng nã thẳng vào đầu người tù.

Đến chiều thì người tù thân tàn ma dại, da bị cháy xém, có người mê man bất tỉnh. Chưa kịp hoàn hồn, sáng hôm sau chúng lại bắt ra phơi nữa. Cứ thế cả tuần. Có người không chịu được, phát điên, cả đêm la hú.

Đến ngày thứ bảy, một người tù gầy tong teo, chỉ còn da bọc xương, toàn thân cháy xém, nằm trên tấm tôn mếu máo, giọng van vỉ: “Xin tha cho tôi. Suốt đêm qua tôi bị đau bụng, không ngủ được. Tôi không chịu được nữa rồi”. “Mẹ mày! Tha cái gì. Gặp tao ở ngoài kia liệu mày có tha cho tao không. Nằm xuống”. Tên giám thị ác ôn quát. “Không. Tôi kiệt sức rồi. Tôi không thể…”. Người tù vẫn rên rỉ, giọng thều thào, đôi chân gầy trơ xương muốn khuỵu xuống.

“Đồng chí sĩ quan! Hãy đứng thẳng dậy. Có chết cũng không được xin xỏ. Chúng nó khinh cho”. Mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía phát ra tiếng nói uất ức mà đanh thép đó, phía nhà giam hạ sĩ quan bị bao bọc bởi bảy lớp rào thép gai. Đó là một chiến sĩ trẻ, gầy nhẳng, đầu trọc lốc, ánh mắt ngút lửa căm hờn.

Bỗng “đòm”. Tiếng đạn khô khốc vang lên. Người tù trẻ ngã ngửa, giãy giãy mấy cái rồi chết, mắt vẫn mở trừng trừng. Thế là tức nước vỡ bỡ. Đồng loạt anh em tù gào lên, lao cả tấm thân gầy guộc, tong teo vào đám giám thị và bọn lính. Cả sân bụi mù cát trắng. Tiếng thét, tiếng tru, tiếng rít vang lên. Bọn giám thị hoảng hốt bỏ chạy. Một vài tên quân cảnh bị đập vỡ sọ. Cả nhà giam tưởng chừng vỡ tung trong cơn phẫn nộ. Nhưng chừng nửa tiếng sau, những khẩu đại liên, những chiếc xe bọc thép đã dẹp xong cuộc bạo loạn. Máu tù nhân chảy thành dòng. Xác phơi đầy sân.

Cuộc tàn sát lớn nhất trên đảo

Sáng ngày 6 tháng 5 năm 1972, địch bất ngờ cho tập hợp toàn thể tù nhân phân khu B8 ra ngoài sân trống để lục soát toàn phân khu sau khi nghe tin mật báo: trong phân khu đang có cuộc đào hầm vượt ngục. Chúng lùng sục khắp phân khu, săm soi từng tấc đất, bới móc từng xó xỉnh.

Anh em tù nhân ngồi chầu trực suốt mấy tiếng đồng hồ dưới cái nắng nóng như đổ lửa. Vừa đói, vừa khát. Cuộc lùng sục kéo dài đến tận trưa mà không mang lại kết quả gì. Mãi đến 11 giờ địch mới cho anh em tù nhân trở vào phân khu rồi đưa lương thực, thực phẩm đến cho họ nấu nướng. Số lượng tù nhân quá đông, lại nấu bằng chảo gang lớn nên đến tận chiều anh em mới được ăn bữa sáng.

Vì thế, sẩm tối, anh em tù đòi nấu ăn bữa nữa nhưng địch không cho với lý do: anh em tù vừa ăn xong vẫn còn no. Nếu nấu bữa nữa thì đến nửa đêm mới xong, khó khăn cho chúng trong việc tuần tra, canh phòng. Hai bên cãi nhau kịch liệt. Địch bắt anh em đem cà mèn ra không cho nấu nhưng tù nhân không chịu. Thế là lính quân cảnh được lệnh kéo đến dàn bên ngoài B8. Tên tiểu đoàn phó tiểu đoàn 8 cùng đám giám thị và quân cảnh kéo vào trong đánh đập tù nhân. Anh em tù bực tức đánh lại. Chúng vội vã tháo chạy rồi lệnh bên ngoài nổ súng yểm trợ. Súng trút đạn ầm ầm như một trận đánh lớn, tầm bắn càng ngày càng hạ thấp. Anh em tù tay không nên bị thương và chết như ngả rạ song vẫn đánh bắt được tên giám thị trưởng Đinh Trọng Kính và tên trung sĩ Vũ Đình Khoan, giam giữ chúng ở phòng số 6.

Một lát sau, tên trung tá chỉ huy trưởng trại giam Bùi Bằng Dực đến đề nghị đưa người bị chết và bị thương ra nhưng anh em tù không chịu, đòi trừng trị tên chỉ huy đã ra lệnh nổ súng giết hại tù binh, yêu cầu từ nay chấm dứt hành động khủng bố bắn vào trại, phải phát cá tươi và lương thực đầy đủ đồng thời phải chôn cất tù nhân tử tế, để anh em đưa đi chôn và tổ chức lễ truy điệu. Người bị thương phải được điều trị chu đáo… Tên chỉ huy trưởng buộc phải chấp thuận.

Theo phiếu trình số 5889/TG. TBCSVN/PQ đề ngày 8 tháng 5 năm 1972 của tên chỉ huy trưởng trại giam Bùi Bằng Dực thì “cuộc nổ súng này đã giết chết 13 tù binh cộng sản, làm bị thương 56 người. Nhân viên quân cảnh đã áp dụng theo huấn thị số 1130/QP về các tiêu lệnh điều hành trại giam nên cuộc nổ súng này là hợp lý và cần thiết”. Nhưng theo các tù nhân trong phân khu B8 thì có khoảng 248 người chết và bị thương. Đây là cuộc tàn sát lớn nhất trong lịch sử nhà tù Phú Quốc.

Và sự thật kinh hoàng về vụ tàn sát, chôn sống tập thể

Trong quá trình đi kiếm nhân chứng, thu thập tư liệu cho loạt phóng sự đặc biệt này, tôi đã gặp gỡ thiếu tướng Lê Phú Cường, cựu tù nhân Phú Quốc. Và qua câu chuyện kể của ông, sự thật kinh hoàng về một vụ giết người hàng loạt bằng cuốc xẻng, cán búa, dùi cui, báng súng R15… rồi chôn tập thể vào mùa mưa năm 1970 đã được hé lộ.

Tác giả của vụ thảm sát dã man ấy là tên đồ tể hạng bự khét tiếng “thiếu tá Mã Sinh Quy”, tiểu đoàn trưởng quân cảnh số 7, sau làm chỉ huy trưởng trại giam Biên Hoà. Chính Mã Sinh Quy đã vỗ ngực tuyên bố về hành động dã thú của hắn trước tù binh trại giam Biên Hoà. “Chúng bay nên nhớ Mã Sinh Quy này là chỉ huy trưởng trại giam Biên Hoà, trước đây là lính dù Liên Hợp Pháp tại xứ Nùng Bắc Việt. Chính tao đã giết một loạt hàng trăm thằng tù binh Phú Quốc. Tất cả chúng bay hãy liệu hồn”.

Thiếu tướng Lê Phú Cường kể: Đó là một buổi chiều hải đảo đầy giông gió, mây đen bao phủ khắp trời. Đích thân tên Mã Sinh Quy huy động hàng trăm trại viên quân kỷ (lính quân đội Sài Gòn bị kỷ luật) mang xẻng, cuốc, mai ra đào một cái hộ rộng.

Hắn ra lệnh: “Tụi bay đào một hố đủ chôn 100 tù binh. Đào xong, bỏ lại toàn bộ cuốc, xẻng, mai, cho tụi bay vô trại nghỉ”. Đám quân kỷ vừa đào vừa sợ, vừa hoang mang. Họ không ngờ đây là hầm chôn người – chôn sống tù binh.

Trên 100 lính quân cảnh từ Tiểu đoàn quân cảnh số 7 từ khắp các đại đội kéo xuống khu vực hầm, tay lăm lăm dùi cui, cán búa, củi đòn. Chúng đi hàng năm, chộn rộn, chộn rộn. Phía trên các góc sân cỏ, hàng trăm lính gác với súng ống và lưỡi lê tuốt trần. Tất cả đứng nghiêm chờ lệnh.

Hàng trăm tù nhân thân tàn ma dại bị lùa ra miệng hầm. Bỗng Mã Sinh Quy hét to: “Giết”. Như một bầy sói dữ, đám quân cảnh lao đến. Hàng trăm xẻng bổ toác đầu tù binh, hàng chục cán búa, củi đòn nện vào ngực, bụng, lưng người tù…

Nửa tiếng sau, không gian chìm trong yên lặng, không còn thấy tiếng kêu la, rên rỉ của những tù nhân. Mã Sinh Quy liền ra lệnh: “Quẳng xác chúng nó xuống hầm. Mồ tập thể của chúng nó đấy. Mau lên”.

Tụi lính quân cảnh lại ào đến đống xác tù nằm ngổn ngang, chồng chất, xô, kéo, đẩy tù chết, tù sống, tù hấp hối xuống hầm. Đất ào ào trút xuống như mưa, mặc tiếng kêu cứu thất thanh của những tù nhân còn sống vọng lên từng đợt, từng đợt.

Kể lại vụ thảm sát kinh hoàng đó, vị thiếu tướng già giọng nghẹn lại, mắt đỏ hoe. Cố kìm nén cơn xúc động, ông bảo: “Quá khứ đau thương cần khép lại vì hoà bình, vì quan hệ thương mại Việt – Mỹ. Nhưng suốt 30 năm qua, chính phủ Mỹ đã yêu cầu phía Việt Nam truy tìm lính Mỹ bị mất tích và hài cốt lính Mỹ. Còn hài cốt lính Việt Nam? Hài cốt của mấy nghìn tù nhân Phú Quốc bị tàn sát thảm khốc kiểu này, sao chính phủ Mỹ không hề nhắc nhở? Không nên và không đành lòng để tình trạng mấy nghìn người tù cộng sản kiên trung mấy chục năm qua vẫn vùi sâu xác thân nơi đầu non, lạch suối. Oan hồn của các anh em còn phiêu diêu nơi lùm cây, bụi cỏ. Xin cho 60 hài cốt của vụ thảm sát này được đưa về nghĩa trang liệt sĩ Dương Đông, Phú Quốc. Xin được tiếp tục tìm kiếm 4.000 hài cốt còn bị vùi lấp trên các đồi hoang của hải đảo Phú Quốc”./.

CTV Dương Anh Sướng/VOV Online

vov.vn

Tên cai ngục tàn bạo và kỹ nghệ… giết người (Phần 4)

Tháng Hai 4, 2012 Bình luận đã bị tắt

(VOV) – Hắn chậm rãi lấy thanh sắt rực đỏ rồi từ từ đâm vào bắp chân teo tóp của người tù cộng sản. “Xèo. Xèo”. Mùi thịt da cháy khét lẹt…

Thật khó có thể kể hết tội ác tày trời mà bọn cai ngục tàn độc đã trút lên thân hình những tù nhân cộng sản Phú Quốc suốt mấy chục năm trường. Cũng thật khó mà chỉ mặt điểm danh cho hết lũ quỷ đội lốt người ở chốn địa ngục trần gian kinh hoàng ấy. Song có một tên ác quỷ mà tên tuổi và những ngón đòn tra tấn “độc chiêu” man rợ đã gây bao nỗi đớn đau, kinh hoàng và cả những cái chết tức tưởi cho hàng ngàn tù nhân thì 40.000 chiến sĩ cộng sản bị giam cầm một thời ấy, mãi mãi không thể nào quên, mãi mãi là nỗi ám ánh hãi hùng. Đó là tên Bảy Nhu, trưởng giám thị khu 2 khét tiếng…

Vồ sầu đời, gậy biệt ly

Chuồng cọp

Bảy Nhu tên thật là Trần Văn Nhu, sinh năm 1926 ở Đồng Tháp. Ngay từ nhỏ, hắn đã thích trò đấm đá, đánh giết nên 18 tuổi, hắn đi lính cho Tây. Cho đến khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ, hắn được đưa sang quân cảnh rồi ra Phú Quốc, làm giám thị trưởng phân khu B2 rồi A2.

Chỉ trong vòng 1 năm, nhờ những thành tích “bất hảo” trong việc tra khảo, đánh đập tù nhân tàn khốc mà hắn được thăng cấp thượng sĩ nhất  và cất lên làm trưởng giám thị khu biệt giam 2.

Chính tại nơi đây, hắn đã sáng tạo ra những đòn tra tấn “có một không hai” kinh hoàng khiến lũ cai ngục nhà lao Cây Dừa tôn sùng hắn lên hàng “sư phụ”.

Món “đặc sản” đầu tiên khét tiếng “danh bất hư truyền” mang thương hiệu của tên ác quỷ Bảy Nhu phải kể đến là “vồ sầu đời”, “gậy biệt ly”, “gậy đầu sinh đầu tử”… Người tù nào chỉ cần nếm vài vồ thì coi như “sầu đời”: chết ném xuống biển làm mồi cho cá, sống thì cũng sầu đời mãn kiếp với các thương tật khiếp vía. Còn cây gậy sắt to bằng bắp tay, ai đã bị đánh thì coi như… li biệt đồng đội, gia đình.

Tên Bảy Nhu hàng ngày xách những “dụng cụ hành nghề” đặc biệt ấy vào tuần tra trong các trại giam. Hắn dùng chày vồ đánh vào các khớp xương như mắt cá, cùi chỏ, đầu gối, bả vai tù nhân.

Trước khi lãnh cơm ăn, hắn thường nện thẳng cánh 5-10 chày vào mắt cá những người ngồi gần cửa biệt giam. Hắn bảo: “Cho ngon cơm. Ngày nào không đánh tụi bay là tao ăn cơm không ngon”. Thấy người bị đánh oằn oại, vật vã vì đau đớn, hắn cười: “Chày này hơi nặng. Chày sau đánh nhẹ hơn”.

Miệng thì nói thế, nhưng hắn phùng môi trợn mắt, giương thẳng tay nện đánh “đốp” khiến nạn nhân giãy nảy người như điện giật. Hắn rất thích ngắm nhìn người bị đánh lăn lộn, quằn quại trong đau đớn. Nhiều người bị đánh lê lết cả tuần mới gượng dậy nổi.

Hắn nhiều lần tâm sự với bọn cai ngục đàn em: “Ngày nào không nhìn thấy máu, không lấy được mấy mạng người là tao không chịu được”. Chỉ với một tay thước bằng gỗ lim, hắn đã lần lượt đánh văng mắt cá chân của hơn 10.000 tù nhân. Lâu lâu, được lên trạm xá khám bệnh thủ tục, nhìn thấy anh em tù nhân bò lê bò lết qua sân, tên Nhu ngửa mặt lên trời cười sằng sặc.

Đục xương bánh chè, nướng sắt đỏ đâm xuyên bắp chân

Anh Nguyễn Văn Ni (tức Bảy Ni) là Bí thư Đảng uỷ phân khu B2 đã lãnh đạo phân khu đấu tranh giành thắng lợi trong việc đánh đuổi tên trung sĩ giám thị trưởng ra khỏi phân khu.

Mổ bụng, moi gan tù nhân

Tức tối, Bảy Nhu cho người bắt anh lên Ban điều hành tra tấn. Hắn chậm rãi lấy cọng sắt bùng nhùng vùi vào lò than hồng cho đến khi thanh sắt rực đỏ rồi từ từ đâm vào bắp chân teo tóp của anh. “Xèo. Xèo”. Mùi thịt da cháy khét lẹt.

Anh Bảy Ni trợn mắt, nghiến răng cố kìm tiếng kêu thét trực bật lên. Một nhát. Xèo! Hai nhát. Xèo! …

Cứ thế, hắn chậm rãi đâm như cô tiểu thư đài các ngồi thêu gối cưới. Đâm nhiều nhát mới xuyên qua một bắp chuối. Xuyên bắp chân trái xong, hắn chuyển sang xuyên chân phải. Mỗi lần sắt đâm là một lần anh Ni ngất xỉu.

Đau đớn tột cùng nhưng anh Ni không chịu khuất phục, vẫn mắng tên Bảy Nhu là thằng bán nước, dắt quân Mỹ về dày xéo đất nước, giết hại nhân dân. Tên Bảy Nhu tím mặt nhưng không nói nửa lời.

Lẳng lặng ra góc phòng, hắn cầm chiếc đục rồi lành lẽ như một nghệ nhân điêu khắc, hắn tỉ mẩn ngồi đục từng mảnh xương bánh chè. Máu từ chân anh Ni toé ra. Mặc. Hắn vẫn bình thản ngồi đục.

Sau, thấy máu chảy lênh láng khắp phòng, tên Nhu đứng dậy bảo: “Khổ thân mày. Để tao cầm máu cho”. Nói đoạn, hắn lấy cây sắt nướng đỏ lúc đầu, châm vào chỗ đầu gối trắng hếu thịt xương vừa đục, nhoe nhoét máu. Thịt bị đốt chín, máu ngưng chảy. Anh Ni gào to: “Đả đảo Mỹ-Thiệu. Hồ Chí Minh muôn năm”.

Tên Bảy Nhu cười khẩy nhưng hai thái dương hắn giật giật, mắt vằn lên những ánh nhìn dữ tợn. Lập tức, hai thanh gỗ nặng nề kẹp cứng lấy lồng ngực lép kẹp của người tù kiên trung Bảy Ni. Hai cái đinh vít đã được bôi dầu. Hai cái cờ-lê roàn roạt vặn. Hai thanh gỗ kêu rin rít ép lại sát nhau. Tiếng xương vỡ nghe xào xạo. Máu ở miệng, ở mũi anh Ni ào ra đẫm mảng xương ngực đang tiếp tục vỡ nát. Chưa hả. Tên Bảy Nhu vung chiếc búa năm cân lên quá đầu. Thụp! Một chiếc đinh mười phân ngập lút đầu gối anh. Thụp! Chiếc thứ 2. Thứ 3. Thứ 4… 16 chiếc đinh to như ngón tay lút ngập hai đầu gối. Anh Bảy Ni gục xuống. Đôi mắt căm hờn mở trừng trừng.

Đục răng, bẻ răng

Đó là “ngón độc chiêu” tàn độc nhất tạo dựng nên “thương hiệu Bảy Nhu” khét tiếng khắp nhà tù Phú Quốc, gây bao nỗi kinh hoàng cho hàng vạn tù nhân. Muốn đục răng, hắn dùng một khúc cây nhỏ bằng ngón tay, dài chừng 3-4 cm. Gàng miệng tù nhân ra, hắn đặt một đầu cây vào đúng vị trí chiếc răng định đục rồi bất thình lình, dùng chày vồ đóng một cái thật mạnh vào đầu kia, tức thì một, hai chiếc răng văng khỏi hàm. Có khi hứng chí, hắn bắt tù nhân tự cầm đầu cây đặt vào răng mình cho hắn đục. Nếu để chệch, bị đục thêm răng thì đành nghiến răng mà chịu.

Còn món bẻ răng, Bảy Nhu không dùng kìm như các tên cai ngục khác thường làm. Cách bẻ của hắn rất đặc biệt. Hắn lấy một cây nhỏ bắt tù nhân cắn một đầu rồi dùng cây đánh lên hoặc đánh xuống ở đầu kia. Muốn bẻ răng hàm dưới thì đánh ngược lên. Muốn bẻ răng hàm trên thì đánh xuống. Máu tuôn xối xả, hắn bắt anh em tù nhân phải nuốt “cho máu trở về tim”. Thậm chí, hắn hứng máu vào bát rồi trộn vào cơm bắt tù nhân ăn.

Bất kỳ một tù nhân nào khi bị đày vào khu biệt giam 2, trước khi chui vào “địa ngục trần gian” ấy đều phải nộp cho hắn vài chiếc răng. Hắn nói: “Mày kích động đấu tranh hả? Trước khi vô biệt giam phải nộp cho bố mày hai cái răng con ạ”.

Kể về những ngón đòn “danh bất hư truyền” của ác quỷ Bảy Nhu, ông Vũ Minh Tằng, cựu tù binh Phú Quốc, người đã bị tên Nhu đập gãy 9 chiếc răng, bảo: “Tôi không tin là tôi có thể sống được đến ngày hôm nay”.

Giọng ông thào thào như chuyện vừa mới xảy ra hôm qua, chưa hết nỗi kinh hoàng: “Tôi vẫn nhớ như in. Đó là vào một một đêm tối trời tháng 12 năm 1971. Tên Nhu và đám quân cảnh lôi tôi ra khỏi chuồng cọp. Nó nghi tôi tổ chức đào hầm cho gần một trăm anh em tù vượt ngục. Nó chỉ thẳng vào mặt tôi, cười gằn: “Mày giỏi lắm. Tao sẽ cho mày chết từ từ, vừa chết vừa nhớ vợ con và đồng đội, chứ bắn mày tòm một phát rồi vứt xuống biển thì quá dễ”.

Nói xong, nó dùng chày vồ đập vỡ đầu gối tôi. Nó chậm rãi đập từng nhát một. Tôi thấy đầu gối mình vỡ vụn, lạo xạo như vỏ trứng gà vỡ. Nó tiếp tục đóng đinh mười phân vào đầu gối và hai ống chân tôi. Cũng nhẩn nha đóng từng chiếc. Tôi ngất lịm đi. Nó dùng cả thùng nước xối ào vào mặt tôi.

Tôi vừa tỉnh dậy, tên Nhu dùng một cái ống tuýp sắt dài, ấn vào miệng tôi, bảo: “Tao xin cái răng. Mày muốn cho tao cái nào?”. Tôi chửi: “Gậy trong tay mày, mày lấy cái nào thì lấy”. Tôi vừa nói hết câu, thằng Nhu đã vung tuýp sắt ghè thẳng vào miệng tôi. Một cái răng văng ra, máu tuôn xối xả.

Nó tát vào mặt tôi: “Nuốt. Nuốt hết. Để bắn giọt máu nào ra ngoài, tao giết”. Cái chân răng của tôi dài, lại nhọn, tôi nuốt sao nổi. Thế là nó cho quân cảnh xối nước vào miệng tôi. Lần lượt chín cái răng của tôi bị chúng đập rụng rồi trôi vào bụng như thế. Bụng tôi căng phềnh lên như ai bơm hơi, tức anh ách như có ai cầm dao rạch ngang, rạch dọc. Vì trong bụng tôi toàn máu và cả thùng nước chúng nó cạy miệng dội vào mà.

Tỉnh dậy, tôi đã thấy mình nằm trong chuồng cọp rồi. Chuồng cọp thì anh biết đấy, chỉ rộng 24 m2, trần cao có 1,8m. Thế mà chúng lèn vào đó những 300 người, thành ra tù nhân phải nằm, ngồi đè lên nhau. Ngột ngạt khủng khiếp. Người sống và người chết nằm đè lẫn lộn.

Có ngày, chuồng cọp có tới 70 – 80 người chết. Chúng cho xác từng người vào quan tài rồi cho lên máy bay ném xuống biển. Cứ thấy người chết đến đâu, nó lại lèn thêm một đợt cho đầy chuồng. Ngày nào tôi cũng phải chứng kiến những cảnh chết chóc rùng rợn ấy.

Có lần, hứng chí, thằng Nhu ra lệnh cho đám quân cảnh nã pháo cối 82 ly xuống khu tù nhân. Thế là chỉ trong tích tắc, vài chục tù nhân mất mạng, xác người lại dày thêm ngoài bìa rừng”.

Có một điều đặc biệt ở Bảy Nhu như là một nghịch lý: Hắn theo đạo Phật, ăn chay trường, trong phòng riêng có hẳn một bàn thờ quanh năm nghi ngút khói hương, đêm đêm vẫn thường tụng kinh lần tràng hạt nhưng ban ngày, hắn đối xử với tù nhân tàn độc hơn cả loài cầm thú.

Khi đánh đập, tra khảo anh tù binh, dù tàn bạo, rùng rợn đến đâu, khuôn mặt hắn không hề thay đổi sắc diện. Không giận dữ, không la hét mà bình thản, thậm chí pha chút khôi hài. Hắn coi việc đánh đập, hành hạ tù nhân như một thú vui, như việc tụng kinh lần tràng hạt trước bàn thờ Phật.

Rất nhiều tù nhân thân thể tiều tuỵ khi bị tên Bảy Nhu tra tấn bằng ngón đòn đục răng đã phải từ giã cõi đời vì không sao chịu nổi. Ngót chục năm hành nghề, hắn để dành được cả thúng răng tù nhân rồi kết lại thành chuỗi tràng hạt đeo tòng teng trên cổ, thoạt nhìn giống hệt Sa Tăng đeo xâu đầu lâu trong truyện Tây Du Ký./.

CTV Hoàng Anh Sướng/VOV Online

vov.vn

Đòn tra tấn tàn độc triệt đường sinh sản tù nhân cộng sản (Phần 3)

Tháng Hai 2, 2012 Bình luận đã bị tắt

(VOV) – Bọn cai ngục đã dùng một cực hình vô cùng tàn độc, chưa hề có trong lịch sử tra khảo tù đày để triệt đường sinh sản của những người cộng sản.

Theo cuốn sách “Chế độ Sài Gòn – một chế độ trại giam” do Nhà xuất bản Đông Nam Á ở Paris ấn hành của nhà báo Mỹ Robin Moore – người được CIA và Bộ Quốc Phòng Mỹ cho phép đi lại các nơi làm việc của chúng, thì “chuồng cọp kẽm gai” là phát minh của lực lượng đặc biệt lính mũ nồi xanh của Mỹ.

Chuồng cọp này đặt ở ngoài trời trong mỗi phân khu. Phân khu nào cũng có vài ba chiếc, loại nhốt một người, loại nhốt 3 – 5 người. Kích thước thì rất đa dạng. Có loại chỉ cho người tù nằm dưới đất cát. Có loại bắt nằm trên dây kẽm gai. Có loại chỉ cho ngồi, không thể nằm hay đứng. Lại có loại chỉ có thể đứng lom khom, ngồi lom khom, không bệt đít xuống được. Ai mỏi quá, chỉ cần khẽ nhổm lên hay hạ xuống là dây kẽm gai sắc nhọn cứa nát da thịt ngay.

Khi tống tù nhân vào chuồng cọp, bọn giám thị bắt lột hết áo quần để dầm mưa, dãi nắng, hóng gió, phơi sương, mặc cho muỗi rừng cắn xé. Những đêm giá rét, thỉnh thoảng chúng lại dội ào lên người ngồi trong chuồng cọp một xô nước lạnh gọi là “để giải khát cho cọp” hoặc “để rửa chuồng”.

Những tù binh cộng sản ở nhà tù Phú Quốc

Những ngày hè nắng cháy, chúng hắt nước muối lên người tù: “Ướp cho chúng mày mau lên cân”. Có khi chúng đốt đống lửa đùng đùng ngay cạnh để “gợi cho cọp nhớ những trận cháy rừng ở Phú Quốc”. Chỉ vài ngày như thế, toàn thân tù nhân sẽ bị lột da như cua lột. Da ngoài tuốt ra, da non lên. Rồi da non lại bị lột cháy. Cứ thế, chỉ mươi ngày, tù nhân chỉ còn da bọc xương. Kinh khủng lắm!

Kinh hoàng cơm trộn cát hoặc nước giải

Nhưng kinh hoàng nhất vẫn là chuyện ăn uống trong chuồng cọp. Bình thường, tù nhân chỉ được ăn một nắm cơm bé tẹo như quả trứng gà với dúm muối, một hoặc hai ca nước. Muốn đi tiểu hay đại tiện, phải dùng tay bới cát lên, đi tại chỗ, xong lấp lại.

Song nhiều khi, để đẩy tù nhân đến nỗi khổ tột cùng, chúng bắt ăn cơm trộn cát hoặc nước giải. Cơm khan đã không nuốt nổi, giờ thêm nước đái khai khẳm nữa thì ăn làm sao. Nhưng không ăn, chúng đập. Đang ăn hoặc ăn xong nôn ra, cũng đánh. Nhiều khi, miệng ậm oẹ cố nuốt miếng cơm lạo xạo cát bốc mùi khai nồng mà trên đầu roi cá đuối cứ quất xuống như mưa. Thứ roi kinh khiếp ấy được làm từ đuôi cá đuôi dài, lắm gai, chúng mua ở chợ An Thới, đem phơi khô để đánh đập người tù. Chúng quất thẳng cánh cho chiếc roi quấn lấy thân tù nhân rồi giật mạnh khiến từng mảng da thịt bị rứt ra, máu chảy toé loe. Khốn nạn hơn, chúng còn lấy muối ớt xát vào những chỗ da thịt rách toang ấy khiến tù nhân đau đớn, nóng rát vô cùng.

Bị đánh đập, hành hạ tàn nhẫn đủ kiểu như thế, đến người khoẻ còn lăn đùng ra lê lết hàng tháng, có người không chịu đựng được phát điên, giữa trưa lao ra khỏi chuồng cọp rồi nhảy tót lên nóc sắt, vừa chửi kẻ thù, vừa lấy mảnh nứa rạch bụng, gan ruột lòi ra cả đống, lạ kỳ thay, người tù Trần Hồng vẫn hiên ngang một khí phách, sáng sáng vẫn luyện khí công.

Điên tiết, bọn giám thị lôi ông ra bắt lộn vỉ sắt. Chúng lật ngửa tấm vỉ sắt với hàng trăm những lỗ tròn, đầy mấu để mắc vào nhau làm đường băng sân bay rồi bắt ông cởi hết áo quần, cắm đầu xuống lộn tùng phèo.

Chúng bắt lộn đi, lộn lại đến vài chục cái. Tấm lưng trần đập lên, đập xuống những mấu sắt. Chỉ vài lần là tóc bị nhổ cả mảng, lưng bị toé máu như hàng trăm nhát dao chém. Cho đến khi bất tỉnh, nằm rũ trên vỉ sắt, chúng mới quẳng trả vào trại giam. Anh em trong tù thương quá, người lau vết thương, người nhường quần áo. Nhưng Trần Hồng gạt đi: “Mặc làm gì. Mặc vào nó đánh lại rách nữa. Thôi! Kệ tôi”.

Đòn tra tấn tàn độc triệt đường sinh sản

Một lần, phát hiện ra một tên chỉ điểm nguy hiểm trà trộn trong phòng giam đã từ lâu, Trần Hồng xin trại trưởng được trừ khử tên phản bội này. Ngay đêm đó, anh cùng một người tù nữa bí mật trùm áo lên đầu thằng chỉ điểm, bóp cổ đến chết rồi nhẹ nhàng khiêng xuống nhà bếp, dúi đầu nó vào lò than rực hồng. Sáng hôm sau, anh trại trưởng giả bộ hớt hải chạy lên phòng giám thị, báo rằng: “Thằng đó nửa đêm rét quá, mò xuống bếp sưởi, không ngờ trúng gió chết gục ngay tại chỗ”.

Thằng giám thị lấy mũi giày, hất cái mặt đã cháy xém của thằng chỉ điểm lên, nhìn một lát rồi đảo mắt khắp phòng giam, cười gằn: “Được lắm! Chúng mày giỏi lắm. Được rồi, cứ coi như chết cảm. Bây giờ tao sẽ cho cả lũ chúng bay chui đầu vào lò lửa xem có chết cảm không?”.

Nói đoạn, hắn cầm dùi cui gõ vào đầu lần lượt từng người, bắt ra khỏi phòng. “Chết cha! Phen này nó giết hết anh em tù mất”. Nghĩ vậy, Trần Hồng bèn đứng phắt dậy nói, giọng dõng dạc: “Không phải thử gì hết. Tôi. Chính tôi đã giết nó”.

Thằng giám thị, sau một vài giây ngỡ ngàng, lại cười gằn rồi ra lệnh đưa Trần Hồng xuống phòng tra hỏi của Bộ chỉ huy nhà tù. Chính tại đây, chúng đã dùng một cực hình vô cùng kinh hoàng và tàn độc, chưa hề có trong lịch sử tra khảo tù đày.

Ông Hồng kể: “Hai thằng cai ngục tay vằn vện những vết xăm, bắp tay săn chắc, cuồn cuộn những thớ thịt như bó chão đè nghiến tôi ra, lột trần truồng tôi như nhộng rồi trói nghiến tôi vào cái cọc chôn giữa phòng. Xong, một thằng dùng chiếc dao lam cạo râu, một tay túm lấy dương vật tôi, một tay nhẹ nhàng rạch một đường thật ngọt dọc theo chiều dương vật. Máu tứa ra, nhỏ xuống sàn lểu bểu.  Tôi khẽ rùng mình. Chắc nó thiến mình đây.

Nhưng không. Ném con dao đi, tên cai ngục thò tay vào một cái hộp sắt, lấy ra một con đỉa trâu đen trùi trũi, mình nhầy nhẫy. Đó là giống đỉa trâu Phú Quốc. Khi hút no máu, nó trường phềnh lên bằng… cổ tay, đen trũi, sần sùi.  Còn bây giờ, nó chỉ to bằng cái bút máy.

Chúng khéo léo nhét con đỉa vào bên trong vết rạch đang tứa máu trên dương vật tôi rồi khâu kín lại. Ngửi thấy hơi máu lại nằm ngập trong máu, con đỉa bắt đầu uốn cong thân mình hút. Lúc đầu thấy nhoi nhói rồi mạnh dần, mạnh dần.

 Mỗi lần nó rít máu tôi lại cong rút người lên như có ai đang cầm chiếc kìm rút từng thớ thịt, lằn gân. Càng hút, thân hình nó càng nở to, nở nhanh như ai đang bơm lốp xe vậy. Càng nở to nó lại càng say sưa hút. Dương vật tôi căng nhức như muốn nổ tung, buốt lên tận óc, như hàng trăm hàng ngàn cật nứa đang thi nhau cào cứa.

Dương vật tôi bắt đầu rách, rách từng phần, từng thớ thịt. Bên trong, con đỉa vẫn cuộn lên, cuộn xuống dữ dội. Đau đớn tột cùng, tôi ngất xỉu đi. Cho đến khi tỉnh dậy, lờ đờ đưa mắt nhìn xuống, tôi rùng mình. Một mẩu thịt nhầu nhĩ, nhoe nhoét máu. Thế là nó đã triệt đường sinh sản của tôi rồi”.

Cũng là đòn tra tấn kinh hoàng đánh vào bộ phận sinh dục nhằm triệt đường sinh sản của tù nhân nhưng câu chuyện tôi sắp kể đây còn tàn độc, đau đớn hơn nhiều chuyện của tù nhân Trần Hồng.

Đó là khoảng cuối năm 1970, ở phân khu A8. Địch chuẩn bị lập Khu tân sinh hoạt dành cho những người bị chiêu hồi. Đảng uỷ phân khu chủ trương cảnh cáo tên tổng đại diện Nguyễn Ngọc Ai do địch dựng lên. Anh em trong tù đã dùng bàn chải đánh răng đâm mù mắt hắn. Bị thương, tên Ai kêu ầm lên.

Bọn quân cảnh vội ập xuống, nổ súng cảnh cáo, cứu thoát tên Ai rồi chúng bắt 6-7 người đi tra khảo. Anh Minh, tức Đặng Văn Bê, quê ở Tiền Giang bị chúng đánh đòn đầu tiên. Chúng dùng chiếc chày vồ bằng gỗ, có cán bên hông như chày giã gạo, nện vào mắt cá chân, vào cùi chỏ, vào đầu gối anh Minh.

Thấy anh oằn oại vì đau đớn, chúng cười khành khạch: “Chày này hơi nặng. Chày sau đánh nhẹ hơn. Yên tâm”. Nói thế nhưng chúng giơ thẳng cánh nện mạnh hơn. Anh Bê quằn quại một hồi rồi bỗng dưng đứng bật dậy, thét lớn: “Đả đảo Mỹ – Thiệu. Hồ Chí Minh muôn năm”. Tức giận, chúng đạp anh ngã quỵ, lấy bao tải xanh trùm kín người rồi nắm lấy miệng bao tải lôi sềnh sệch xuống nhà bếp.

Trên bếp lửa rực hồng, một chảo nước lớn đang sùng sục sôi. “Một. Hai. Ba”. Chúng khiêng lẳng anh vào giữa chảo nước ngùn ngụt. Anh giãy giụa đuỳnh đuỵch trong bao tải. Chừng 5 phút sau, chúng vớt anh lên, lôi ra khỏi bao tải. Toàn bộ da thịt anh bị vuột ra, trắng lốp. Anh đã ra đi vĩnh viễn ở tuổi 23.

Sau khi luộc chết anh Bê, chúng quay ra hành quyết một du kích trẻ quê ở Cà Mau theo lối tàn độc thời Trung Cổ. Chúng dựng một cái giàn, để hai cây cọc sắt nằm song song cách mặt đất chừng 8 cm.

Sau khi đã nhóm một đống củi liu riu phía dưới, chúng cột chặt anh du kích vào hai thanh sắt rồi chậm rãi quay giống như nướng một con cá lóc. Mùi quần áo, mùi râu tóc, mùi thịt da cháy khét lẹt. Mỡ chảy xèo xèo. Anh du kích quằn quại trên lửa đỏ. Khi thanh sắt ngừng quay, toàn thân anh cháy sẹm như một thân gỗ trong biển lửa.

Đến ngày thứ 3 sau vụ cảnh cáo tên Nguyễn Ngọc Ai, chúng bắt anh Ba Vạn, quê Quảng Ngãi, là Bí thư đảng uỷ vùng 1 và anh Tô Hồng Minh, quê ở Cà Mau, là uỷ viên thường vụ Đảng uỷ vùng 4 ra đánh đập tại cổng rồi đưa vào phòng tra tấn. Hai anh bị tống vào hai phòng khác nhau. Tên trung sĩ Điền trực tiếp tra khảo anh Ba Vạn còn tên trung sĩ Nghĩa tra khảo anh Minh.

Đánh đập, tra khảo đủ hình đủ kiểu mà không khai thác được gì, chúng bèn đổi cách. Tên Nghĩa bắt anh Minh cởi hết quần áo ra rồi ghé sát tai anh nói, giọng lạnh lùng: “Một là khai. Hai là đốt cho tuyệt tự. Chọn đi”.

Anh Minh vẫn dạ sắt gan vàng quyết không hé nửa lời. Chúng bèn xếp hai chiếc ghế băng song song nhau, chừa một khoảng ở giữa rồi bắt anh Minh ngồi lên, dạng chân qua hai bên. Tên trưởng trật tự Dương Văn Hai bưng lên một chiếc đĩa, trong có đựng một nhúm bột màu đen. Xoè. Hặn bật diêm, châm lửa. Chiếc đĩa trở thành mồi lửa. Hắn chậm rãi đặt dưới hai ngọc hoàn và dương vật anh Minh. Anh nghiến răng, mắt trợn ngược, vặn mình đau đớn. Lửa làm nứt da, chảy mỡ, nhỏ xuống chiếc đĩa kêu “xèo, xèo”. Anh Minh ngất lịm. Chúng lấy chiếc đĩa ra, mang vào phòng anh Ba Vạn.

Một lát sau, chúng cho gọi anh em tù binh ra khiêng hai anh vào phòng 1.  Chẳng biết chúng đã làm gì anh Ba Vạn, chỉ thấy miệng anh cháy đen, mắt đờ đẫn. Hỏi, anh lắc đầu, lấy tay chỉ vào miệng.

Chiều hôm ấy, anh Ba Vạn tắt thở. Anh ra đi mà không trăng trối được một lời. Anh em đã tẩm liệm và chôn anh ở đồi 100./.

CTV Hoàng Anh Sướng/VOV Online

vov.vn

Chuyện rùng rợn ở Nhà tù Phú Quốc (Phần 2)

Tháng Hai 2, 2012 Bình luận đã bị tắt

(VOV) – Có lẽ, chưa bao giờ và ở đâu, những đòn đánh đập, tra tấn, hành hạ lại độc ác, rùng rợn  như những ngón đòn mà bọn cai ngục nhà tù Phú Quốc đã trút lên mình các tù nhân cộng sản.

Trong hồ sơ của Trại giam Phú Quốc, hiện còn lưu trữ 24 ngón đòn tàn khốc mà tương truyền, các viên cai ngục đã đúc kết, lưu truyền và thực hành trong suốt mấy chục năm.

Những ngón đòn mà chỉ điểm tên thôi, nhiều người đã rùng mình: dùng chày vồ đập nát vụn mắt cá chân, dùng dùi đục đục từng miếng xương bánh chè, dùng ván gỗ chắc nịch và đinh vít ép vỡ lồng ngực, tẩm dầu đốt cháy dương vật. Rồi bẻ răng, luộc người trong chảo nước sôi hay nướng người trên lửa than rực hồng….

Khi gặp gỡ, tiếp xúc với hàng chục cựu tù nhân tàn phế, một thời bị đoạ đày nơi địa ngục trần gian, ngồi nghe họ kể lại một cách tận tường và chậm rãi về những cực hình mà bọn cai ngục trút lên thân xác họ, tôi vẫn không thể kìm được những dòng nước mắt và cả những tiếng kêu kinh hoàng trước nhiều ngón đòn tàn độc khác nữa mà sử sách ngục tù chưa từng nhắc đến…

Từ những ngón đòn đầu tiên phải nếm ở cửa “địa ngục trần gian”

Trong cuộc đời làm báo của mình, tôi đã từng nhiều lần ra nhà tù Côn Đảo, ngược nhà ngục Sơn La, Bắc Mê, Nghĩa Lộ. Tôi cũng đã từng đọc nhiều trang sách viết về chốn lao tù, gặp gỡ, trò chuyện với nhiều bậc lão thành cách mạng vốn là tù nhân của các nhà ngục trên.

Bọn cai ngục đánh phủ đầu các tù nhân cộng sản

Tôi rút ra một điều: Thời chống Pháp, khi bắt được các chiến sĩ cách mạng, địch thường đánh đập, tra khảo để khai thác tổ chức hoạt động của ta rồi tống vào nhà giam. Chúng không có những hoạt động khủng bố chính trị tàn bạo mặc dầu chế độ cai trị tù nhân vô cùng hà khắc.

Nhưng đến thời Mỹ nguỵ, địch đúc rút được nhiều kinh nghiệm hơn trong việc đánh phá cách mạng nên ở tất cả các nhà tù chính trị và trại giam tù binh, ngoài việc kìm kẹp thật chặt tù nhân không cho vượt ngục, chúng còn dùng nhiều âm mưu, thủ đoạn vô cùng thâm độc nhằm huỷ diệt tinh thần và thể xác các chiến sĩ cách mạng kiên trung.

Chúng dụ dỗ, đe doạ, khủng bố, đánh đập bằng những nhục hình tàn khốc hơn thời trung cổ, thậm chí nã súng cối, đại bác vào trại giam, gây nên những thảm kịch đẫm máu. Trong đó, tàn khốc nhất, phải kể đến Trại giam tù binh Phú Quốc. Vì là trại tù với số lượng tù binh đông nhất (khoảng 40.000 người), lại xa đất liền, bốn bề mịt mùng biển cả nên bọn Mỹ nguỵ khủng bố rất ác liệt.

Vừa bước chân xuống sân bay An Thới (Phú Quốc), các chiến sĩ của ta đã bị một trận mưa đòn đánh phủ đầu bằng báng súng, dùi cui hay những cú đá lật hàm bằng mũi giầy đinh cứng như sắt.

Chưa kịp mở mắt, chúng đã áp lên xe vận tải quân sự về Bộ chỉ huy trại giam để khám xét, làm thủ tục nhập trại rồi lại tiếp tục lên xe đến phân khu trại giam. Cứ mỗi lần lên xe, xuống xe như thế là những trận đòn liên hồi kỳ trận vào mặt, vào đầu, vào lưng những tù nhân vốn xác xơ, tiều tuỵ sau thời gian tra khảo, khai thác hồ sơ. Đó là “món đòn đầu tiên phải nếm” cho “thủ tục nhập trại” trước khi vào nhà tù Phú Quốc.

Kể về thủ tục nhập trại khốc liệt ấy, ông Ba Toản, cựu tù nhân Phú Quốc giọng đầy uất hận như câu chuyện vừa mới xảy ra hôm qua: “Tôi quê ở Đan Phượng, (Hà Tây cũ), vào Nam chiến đấu năm 1966 trong binh chủng đặc công. Tôi bị bắt vào đợt 3 cuộc Tổng tấn công năm Mậu Thân. Sau 3 tuần bị giam cầm, đánh đập, tra khảo ở Nhà lao Hố Nai (Biên Hoà), tôi cùng 200 người nữa bị địch đưa ra sân bay, dồn tất cả lên chiếc C.130. Chừng nửa tiếng sau, chúng tôi bị lùa xuống một hòn đảo mà nhìn xung quanh tứ bề thấy rừng núi xám xịt một màu. Lúc ấy, chưa ai biết đó là Phú Quốc. Đang hoang mang không biết mình ở đâu thì bỗng “bốp”. Một cú dùi cui bổ thẳng giữa đỉnh đầu khiến tôi choáng váng, ngã quỵ. Gượng đứng dậy, mở mắt nhìn, tôi thấy mọi người đều bị nện như thế.

Một tên đại uý còn trẻ, râu ria xồm xoàm, ác ôn khét tiếng, dạng chân, giọng rít lên từng chặp: “Đánh chơi một chút để chúng mày hiểu rằng: chúng mày đang sống ở đâu, đang dưới bàn tay cai trị của ai.? Đây là đảo Phú Quốc, chúng mày nghe rõ chưa? Cách đất liền hàng trăm km, xung quanh toàn cá sấu, rắn rết, bom mìn. Thằng nào muốn trốn, xin mời. Hừ! Vào đây, chúng mày chỉ có hai con đường: tuyệt đối ngoan ngoãn chấp hành mọi quy định của nhà lao hoặc là chết thê chết thảm, chết đau chết đớn, chết không toàn thây. Nghe rõ chưa, bọn phiến cộng”.

Bất ngờ có một tù nhân trẻ bước ra, quắc mắt, quát lớn: “Chúng tôi không phải là phiến cộng. Chúng tôi là tù binh chiến tranh”. Tên đại uý cười gằn: “Hả? Cái gì? Tù binh chiến tranh hả? Giỏi. Thằng này giỏi. Mày tới số rồi con ơi”. Đột nhiên, hắn thét lên: “Lại gần đây. Lại!”.

Người tù nhân trẻ chưa kịp phản ứng gì thì hắn đã sải bước đến. “Rắc”. Nhanh như chớp, cây gậy bịt đồng trong tay hắn vung lên. Người tù nhân trẻ ngã gục xuống, giơ hay bàn tay bụm chặt lấy miệng. Máu trong mồm túa ra, hai chiếc răng cửa gãy văng xuống đất.

Uất quá, chúng tôi định lao vào quyết tử với chúng. Nhưng không kịp. “Đoàng. Đoàng. Đoàng”. Khói súng mù mịt từ trong tay tốp quân cảnh. Ba người tù nhân ngã lăn quay ra đất, giãy đành đạch một hồi rồi nằm im.

Tên đại uý tàn ác gõ gõ cái đầu gậy bịt đồng vào lòng bàn tay: “Thế nào? Đã ra đây tính mạng của chúng bay không bằng con rệp. Cứ liệu hồn. Điên tiết lên là ông cho chúng mày về chầu ông bà ông vải hết”. Đó là đòn phủ đầu, chúng đánh cho biết mặt. Cú phủ đầu này thâm độc lắm. Ai nhát gan sẽ bị quỵ ngay hoặc tinh thần suy sụp”.

Từ sân bay, địch áp giải đoàn tù binh vào trại. Ông Ba Toản kể tiếp: “Chúng tôi đi bộ chừng 1 km thì tới một khu nhà san sát toàn tôn. Hàng rào kẽm gai tầng tầng, lớp lớp. Những báng súng và cả những tiếng chửi tục đẩy nhanh tôi và 20 người vào một căn phòng dài 12 m, rộng chừng 5 m. Một mùi hôi thối xộc lên khiến tôi nôn ộc ra. Trong căn phòng nhờ nhờ sáng, tôi thấy chật cứng người. Người nằm, người ngồi trên hai bệ dãy xi măng chạy dài sát tường tôn. Ngay lối đi nhỏ ở giữa cũng ninh ních người. Tôi đảo mắt một lượt. Ước chừng hơn 100 tù nhân gầy đét. Không khí ngột ngạt, nóng bức hầm hập như cái hoả lò.

Ngay bữa ăn đầu tiên, tôi đã thấm thía tận cùng thế nào là cơm tù Phú Quốc. Mười người một xô cơm to bằng cái phích nước một lít. Chia đều, mỗi người được một thìa xới. Những thìa cơm ẩm mốc, hôi xì mùi gián nhai nhống nháo với mấy con cá bé bằng ngón tay út, nát nhũn, thum thủm và nửa cà mèn canh lõng bõng.

Nhiều đêm nằm, giòi bọ bò túa ra khắp phòng, chui cả vào mồm, vào mũi. Sáng sáng, xì mãi, khạc nhổ mãi, lũ giòi bọ mới chịu chui ra. Ấy nhưng, do chen chúc ngộp thở quá, người nào ốm yếu mới được… ưu tiên nằm cạnh cái thùng phuy phân lúc nhúc loài động vật kinh khủng đó.

Có tháng, nhất là sau Tết Mậu Thân 1968, nhiều chiến sĩ của ta sa vào tay giặc, tù nhân đông quá, địch nhồi nhét mỗi phòng lên đến 150 người, trong khi sức chứa tối đa một phòng giam là 60 người.

Thế là, ba người chung nhau một chỗ nằm. Nếu một người nằm thì hai người kia, một phải ngồi hờ trên ngực người nằm, một phải quỳ ở dưới chân, đưa hai chân của người nằm gác lên vai mình.

Mỏi quá thì luân chuyển cho nhau. Nếu kiểu ngồi hờ hay quỳ không ổn thì chuyển sang đứng. Một người nằm, hai người đứng dạng chân ở đầu và cuối. Nhìn từ bên ngoài vào trông như những diễn viên xiếc đang diễn trò. Khổ thế mà mãi cũng thành quen.

Lại kể chuyện tắm trong tù. Trước năm 1968, do tù nhân còn ít, mỗi tù nhân còn được một ca in-ốc nước. Thật tằn tiện cũng đủ dùng. Về sau, đông quá, nước cháy, mỗi người chỉ được một đít ca, ăn xong, nhấp nhấp gọi là cho khỏi khát rồi giữ lại, đổ vào túi ni lông. Tích cóp cả tháng cũng được chừng 1 lít. Thế là tắm.

Trước tiên, nhúng ướt bàn tay rồi kỳ khô một lượt cho bở hết ghét. Xong, ngồi vào cái chậu tôn do anh em trong tù cắt xén những chỗ đầu thừa đuôi thẹo trên mái, trên tường khum lại. Một người dội, một người kỳ tiếp. Người dội, người kỳ phải khéo léo sao cho không vương ra ngoài một giọt nước. Người này tắm xong, người kia ngồi vào, tận dụng thứ nước thải nổi váng của người trước. Rồi tiếp tục đến người thứ ba. Với những người tù cộng sản, lúc đó, giọt nước quý như giọt máu.

Vì nước khan hiếm như thế nên cực nhất trong tù có lẽ là chuyện đi “ngoài”. Nước không có mà rửa, giấy không có mà chùi. Đành xé áo quần ra vậy. Xé từng miếng nhỏ chùi đít hết rồi, miếng cuối cùng đành phải dùng chùi đi chùi lại. Thế mà nhiều lúc bạn tù bị đánh đập tàn bạo, bể mặt sưng mày, đành lấy ngay miếng giẻ lau đùi lau đít ấy mà lau vết thương cho bạn”.

…đến những cực hình tàn độc của lũ quỷ đội lốt người

Ngồi trước mặt tôi đây là cựu tù nhân cộng sản Trần Hồng, người đã từng gây chấn động trong lịch sử nhà tù Phú Quốc bằng cuộc vượt ngục có một không hai – vượt 18 lớp rào kẽm gai giữa thanh thiên bạch nhật dưới hàng ngàn con mắt cú vọ của bọn cai ngục.

Nhưng giờ đây, ngót 40 năm sau, giữa đất Sài Gòn, ông lại gây chấn động trong tôi bằng những câu chuyện kể rùng rợn về những ngón đòn tra tấn tàn độc mà ông đã từng chết đi sống lại nhiều lần.

Giật phăng chiếc áo trên người, để lộ vòm ngực chằng chịt dọc ngang những vết sẹo to, sâu như những vết dao chém, ông cười gằn: “Cậu thấy rõ không? Chuồng cọp, chuồng chó đó. Đây nữa…”.

Nói đoạn, cúi xuống, vén hai ống quần lên, để lộ hai bắp chân trần sùi lên những đống sẹo như những ụ mối, ông lại cười gằn: “Nướng sắt đỏ xuyên bắp chuối đó”. Tôi bỗng hoa mắt, ù tai, người nôn nao như say nắng.

Vẫn tiếng ông cười gằn: “Hầu hết những ngón đòn tra khảo độc địa nhất ở nhà tù Phú Quốc, tôi đều nếm đủ. Kể với anh có mà cả ngày chẳng hết. Khủng khiếp lắm!”.

Những tù binh bị thương tật do những đòn tra tấn dã man

Trần Hồng là người gốc Bình Định, rất giỏi võ cổ truyền. Ông bị địch bắt năm 1968 ở mặt trận Huế và đày ra Phú Quốc khi vừa tròn đôi mươi. Tuổi trẻ, máu nóng, lại sẵn khí phách của người thượng võ nên ông đụng độ liên tục với bọn quân cảnh. Thế là chúng tống ông vào phòng biệt giam khu 2 – “địa ngục” kinh hoàng nhất ở nhà tù Phú Quốc.

Đó là căn phòng rộng 3m, dài 8m. Tổng cộng 24 m2. Hai mét-vuông ngoài cùng, chúng dùng để làm phòng tra tấn. Như vậy, phòng biệt giam chỉ còn vỏn vẹn 22 m2. 22 m2 mà chúng tống vô đó đến… 197 tù nhân. 197 con người ghẻ lở, phù thũng, bệnh tật, máu me hôi hám…

Tính trung bình, 8 người chồng chất nhung nhúc lên nhau trên 1 m2. Nằm không được, đứng hết hay ngồi hết cũng không được. Khổ cực vô cùng. Đã thế, cứ nhằm vào dịp lễ Tết, chúng lại lôi ông ra phòng tra tấn đập vỡ móng tay, bẻ từng chiếc răng.

Ông kể: “Chúng bắt tôi đặt ngón tay lên cạnh bàn rồi dùng búa đinh hoặc chày, nện đốp một cái rất mạnh. Chúng nện hơi chếch. Móng tay bựt ra, có khi văng hẳn xuống đất, có khi còn dính lòng thòng, máu tuôn ròng ròng. Tôi đau đớn đến run rẩy, mặt tái xám. Mặc! Chúng lần lượt ghè móng này xong lại đập móng khác”.

Chuyện bẻ răng cũng đau đớn vô cùng. Chúng bắt ông đứng úp mặt vào tường, chìa miệng ra cái ô tròn như miệng chén của vỉ sắt rồi kề một đầu của chiếc thước kẻ bằng đồng vào chiếc răng cần bẻ, đầu kia, chúng dùng bàn tay vỗ “bộp” vào cái chuôi thước. “Cắc”. Chiếc răng văng xuống nền xi măng khô khốc. Mỗi lần vỗ “bộp” là một lần chiếc răng nữa văng ra. Nhưng chỉ hai ba lần vỗ là mồm miệng nhoe nhoét máu. Có lần, uất quá, ông vừa nuốt máu, vừa chửi: “Mẹ chúng mày. Oai gì cái lối trói người lại đánh. Giỏi thì ra ngoài bìa rừng kia, một mình tao chấp cả chục”.

Đáp lại lời thách đố oai hùng ấy là tiếng cười sằng sặc của lũ cai ngục. Ngay buổi chiều, chúng quẳng ông vô chuồng cọp, chuồng chó./.

CTV Hoàng Anh Sướng/VOV Online

vov.vn

Nhà tù Phú Quốc – “địa ngục trần gian” với những người cộng sản (Phần 1)

Tháng Hai 2, 2012 Bình luận đã bị tắt

(VOV) – Cuộc sống đang có được ngày hôm nay đã phải đánh đổi bằng xương máu của bao nhiêu người, trong đó có sự hy sinh vô giá của những người cộng sản kiên trung ở nhà tù Phú Quốc.

LTS: Cho đến tận những ngày này, khi mà 1.067 hài cốt của những chiến sĩ cách mạng kiên cường – những “tù nhân cộng sản” bị địch bắt, đày đoạ, đánh đập, tra tấn và giết hại vô cùng tàn độc tại nhà tù Phú Quốc ngót 40 năm về trước, đã được tìm thấy và an táng tại nghĩa trang huyện đảo Phú Quốc, (tỉnh Kiên Giang), thì cuộc tìm kiếm 3.000 hài cốt còn lại vẫn đang tiếp tục.

Đây có lẽ là cuộc kiếm tìm hài cốt lớn nhất trong lịch sử Việt Nam. Những trang sử tù đày đen tối, một lần nữa, lại ùa về đến buốt lòng. Những hầm hài cốt tập thể xương chồng chất tầng tầng, lớp lớp sâu đến 7-8 mét. Những bộ hài cốt không còn nguyên hình hài mà trên xương sọ, xương sống, xương ống chân, vẫn còn găm đến 12 cái đinh mười… Tất cả, hiển hiện buốt lòng trước thanh thiên. Những dòng nước mắt xót cay. Những tiếng nấc tắc nghẹn….

Để rồi, thấy cồn cào, da diết một nỗi niềm: phải sớm tìm đưa các anh về cố hương dù chỉ là một nắm đất nâu, một dúm xương tàn… Đó là nghĩa cử, là món nợ ân tình mà lẽ ra, chúng ta phải trả từ lâu.

Cuộc sống mà chúng ta đang có đã phải đánh đổi bằng xương máu của biết bao nhiêu người.

VOV Online xin giới thiệu loạt bài: Nhà tù Phú Quốc- “địa ngục trần gian” của những người cộng sản.

Nước mắt rơi chốn “địa ngục trần gian” (Phần 1)

Chúng tôi xuống sân bay Phú Quốc vào một ngày hè đầy giông gió.

Mưa sầm sập. Mưa như  trút nước. Mưa trắng xoá tứ bề. Người cựu chiến binh đồng hành cùng tôi trên chuyến bay thảng thốt: “Mưa như khóc, như than cho cái chết thảm thương của hơn 4.000 chiến sĩ cách mạng đã từng bị tù đày, đánh đập, tra tấn, giết hại dã man ở vùng đất đau thương mà anh hùng này hay sao ấy, cháu ạ?!”.

Nhà ngoại cảm Vũ Thị Minh Nghĩa đón tôi ở cửa sân bay. Nụ cười chưa kịp tắt, nước mắt chị đã lưng tròng. Chị sụt sùi bảo: “Thương xót lắm em ơi! Cả đời chị đi tìm kiếm hài cốt liệt sĩ khắp rừng xanh núi thẳm, khắp các địa danh khốc liệt của cuộc chiến nhưng chưa thấy bao giờ và ở đâu, hài cốt các anh lại nhiều như ở đây. Tầng tầng, lớp lớp. Hầu hết không còn nguyên vẹn. Ở hầm mộ thứ nhất, sau khi đào bới được 130 bộ hài cốt, chị và anh em trong đội quy tập K92 nhặt nhạnh từ trong các đống xương tàn được cả thúng đinh mười, chiếc nào cũng to, dài như ngón tay út. Đếm đi đếm lại, tròn trịa… 300 cái. Có bộ xương bị đóng tới 16 cái đinh. Có bộ được chằng trói bằng dây thừng, dây nhựa dẻo rất tàn độc. Ai trông thấy cũng lạnh sống lưng. Buốt lòng lắm”.

Toàn cảnh nhà tù Phú Quốc

Nói đoạn, chị khóc nấc lên. Đôi vai gầy guộc rung lên từng chặp. Mắt tôi bỗng cay xè. Lòng nghẹn đắng. Không kịp về khách sạn cất hành lý, tôi theo chân chị Năm Nghĩa đến thẳng tượng đài Nắm Đấm, nơi đang tạm quàn hài cốt của hơn 100 tù nhân năm xưa.

Hài cốt được xếp trong những chiếc hòm gỗ to, trên phủ lá cờ đỏ sao vàng. Hòm được kê trên những chiếc ghế vững trãi, dưới chân là 3 con chó tinh khôn nằm canh giữ. Chị Năm Nghĩa nhẹ nhàng mở một nắp hòm, nhấc từng gói xương được bó buộc cẩn thận trong lớp vải, giọng chị nghèn nghẹn: “Ngần này đồng chí hy sinh, chỉ duy nhất một người có tên tuổi, địa chỉ, còn tất cả, ai cũng là ai, ai cũng là người cộng sản chân chính đã sống đến giọt sống cuối cùng cho quê hương đất nước. Chỉ tiếc rằng, họ đã không được trông thấy ngày Bắc Nam sum họp. Họ đã mất hoặc nửa thế kỷ (nếu là liệt sỹ chống Pháp), hoặc hơn ba chục năm ròng nằm dưới lòng đất sâu (nếu là liệt sỹ thời chống Mỹ), họ mới được chúng tôi mang lên.

Người bị đóng 16 cái đinh trên cơ thể, có người, khúc xương sống vẫn sừng sững một cây đinh cắm ngập. Nhưng họ vẫn may mắn hơn hàng nghìn người còn nằm vùi đâu đó dưới lòng đất, dưới những tán rừng, dưới những con suối lạnh. Quá nhiều nhân chứng (kể cả báo cáo của Sở Lao động Thương binh Xã hội tỉnh Kiên Giang mới đây) đều chính thức nói về việc máy bay của bọn cai ngục đã chở những người đau ốm đi chữa bệnh rồi không bao giờ đưa họ trở về nữa. Những người tù xấu số đã bị ném xuống Vịnh Thái Lan làm mồi cho cá dữ và đáy biển sâu. Cái việc họ trở về là không thể. Do thế, nên việc kiếm tìm cho đầy đủ cơ số hàng nghìn người đã chết vì địa ngục trần gian nhà tù Phú Quốc là một nhiệm vụ thiêng, cao quý nhưng… bất khả hoàn thành trọn vẹn”.

Chốn “địa ngục trần gian” kinh hoàng

Buổi trưa hôm đó, ngồi ngay tại nhà quản trang bé tẹo của nghĩa trang Nắm Đấm nghi ngút khói hương, tôi lần giở lại những trang tư liệu về nhà tù Phú Quốc để cố hình dung ra chốn “địa ngục trần gian” kinh hoàng ấy.

Sau thất bại của cuộc chiến tranh Đặc biệt, người Mỹ đổ quân vào miền Nam Việt Nam, tiến hành cuộc chiến tranh cục bộ trên quy mô lớn. Chiến cuộc trên khắp các chiến trường ngày càng trở nên ác liệt. Số người chết, bị thương và bị bắt của cả hai bên ngày càng đông. Trước tình hình đó, Mỹ chủ trương xây dựng ở mỗi vùng chiến thuật một trại giam tù binh cộng sản.

Ngoài ra, chúng còn lập thêm một trại giam để giam tù binh nữ ở Quy Nhơn thuộc vùng Hai chiến thuật và xây dựng một trại giam tù binh do trung ương quản lý ở Phú Quốc. Kể từ đó, những người bị địch bắt mà chúng cho là thuộc các lực lượng vũ trang của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, chúng sẽ giam giữ ở những trại này, không giam chung với tù chính trị nữa.

Sở dĩ Mỹ chọn Phú Quốc để lập trại giam tù binh với số lượng lớn nhất (khoảng 40.000 người) là bởi Phú Quốc nằm giữa biển, cách biệt ngàn trùng với đất liền nên dễ đàn áp, dễ bưng bít dư luận, tránh được những cuộc tấn công để giải thoát tù binh và hạn chế được những cuộc vượt ngục. Khoảng cuối năm 1966, Mỹ nguỵ tiến hành xây dựng “Trại giam tù binh cộng sản Việt Nam – Phú Quốc” tại thung lũng An Thới, trên diện tích rộng chừng 400 ha. Chiều dài chừng 5 km chạy suốt từ miếu Cô Sáu đến Cầu Sấu. Chiều rộng khoảng chừng 1,5 km. Để biến khu đất 400 ha này thành đồng không đồi trọc, lính Mỹ đã rải xuống một khối lượng chất độc hoá học khổng lồ, tạo thành một vành đai trắng rộng hàng cây số. Xung quanh được bủa vây bởi biển, rạch và rừng, tịnh không có một mái nhà dân, một bóng người sinh sống.

Toàn trại giam Phú Quốc có 12 khu. Mỗi khu chia làm 4 phân khu: A, B, C, D. Mỗi phân khu có từ 9 đến 18 nhà giam. Mỗi nhà giam nhốt chừng 120 người. Cao điểm, nhiều khi chúng nhồi nhét đến 150 người. Thử làm một phép nhẩm tính: Một phân khu có trung bình 12 nhà. Vậy 4 phân khu sẽ là 48 nhà. Gấp 10 lần con số 48 đó sẽ là 480 nhà lao cỡ nhỏ hay 48 nhà lao cỡ trung hợp thành. Quá khủng khiếp! Cho nên không phải ngẫu nhiên, nhà tù Phú Quốc được xem là nhà tù lớn nhất Đông Nam Á thời đó.

Toàn bộ các phòng giam này là loại nhà tiền chế, lấy khung thép lắp sẵn làm sườn rồi đắp điếm bởi các miếng tôn. Vách dựng bằng tôn, mái lợp tôn, đến cửa ra vào cũng làm bằng tôn nốt. Cả nhà tù khổng lồ ấy không hề có lấy một viên gạch, một mảng tường bê tông nào. Trưa hè nắng cháy, nhìn vào nhà lao thấy rừng rực đến nhức mắt, tưởng chừng toàn bộ những dãy nhà tôn điệp trùng kia đang bị dìm trong chảo lửa.

Phân khu nào cũng có hàng rào kẽm gai bủa vây. Rồi từng khu bên trong lại tiếp tục bị bủa vây bởi những hàng rào dây thép. Chỗ dày có thể lên đến 10 – 15 lớp. Chỗ mỏng cũng phải 7-8 lớp. Nhìn từ trên cao xuống, sẽ thấy các mái nhà tôn trắng toát nằm san sát và những hàng rào kẽm gai tràn ra, tầng tầng lớp lớp như những con sóng biển.

Về lực lượng bảo vệ, ngoài Bộ chỉ huy quân cảnh do một trung tá hay đại tá cầm đầu, còn có bốn tiểu đoàn quân cảnh, có lúc lên năm. Mỗi khu có một tiểu đoàn. Mỗi phân khu có một đại đội quân cảnh canh giữ. Ngoài lực lượng này, nhà lao còn có một trung đội quân khuyển toàn chó béc-giê giống Anh to lừng lững, giữ tợn như sư tử, một trung đội bảo vệ sân bay, một trung đội quân tiếp vụ cộng một tiểu đoàn tiếp vận 3, trực thuộc trung ương, có nhiệm vụ tiếp vũ khí cho cả nhà lao, phi trường, lực lượng hải quân và quân y viện. Riêng lực lượng hải quân là một sư đoàn giăng kín ngoài biển.

Với lực lượng bảo vệ dày đặc như vậy, nên gần như hình thành một tỷ lệ: cứ hai tù nhân là có một lính trông coi. Đó là chưa kể đến đội ngũ các giám thị hùng hậu vừa tinh quái, nham hiểm, vừa tàn độc. Bọn chúng là lực lượng riêng, có nghiệp vụ, được xét tuyển kỹ càng, hầu hết là hạ sĩ quan. Số này lầm lỳ, bạo tợn và rất dữ đòn. Chính chúng đã sản sinh ra những trò tra tấn vô cùng dã man và tàn độc hơn cả thời trung cổ, khiến nhà tù Phú Quốc trở thành “địa ngục khiếp đảm chốn trần gian” và gây ra cái chết thảm khốc của hơn 4.000 tù nhân, cái chết kinh hoàng nhất trong lịch sử đấu tranh cách mạng./.

CTV Hoàng Anh Sướng/VOV Online

vov.vn

130 năm thăng trầm chữ Việt – Kỳ cuối: Quốc ngữ của một nước độc lập

Tháng Một 5, 2012 Bình luận đã bị tắt

TT – Có thể coi truyền bá quốc ngữ là một phong trào nối tiếp Đông Kinh nghĩa thục nhưng rộng hơn và do Đảng Cộng sản chỉ đạo.

Trong “Hồi ký” về thời kỳ “Mặt trận Dân chủ Đông Dương”, Trần Huy Liệu viết: “Theo quyết nghị của Đảng, để tiến tới một tổ chức chống nạn thất học, chúng tôi, một số đồng chí đã họp với một số nhân sĩ để bàn về việc này. Buổi họp ở nhà anh Phan Thanh, trong đó có các anh Phan Thanh, Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp và tôi cùng mấy nhân sĩ là Bùi Kỷ, Nguyễn Văn Tố… Hội nghị đi tới việc xin phép thành lập một hội”.

Ngày thành lập Hội Truyền bá quốc ngữ năm 1938 tại sân vận động CSA Hà Nội: nhà thơ Hằng Phương đang đọc diễn văn. Trên hàng ghế gần diễn giả từ trái sang phải là các ông: Phan Thanh, Nguyễn Văn Tố, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Văn Huyên… – Ảnh tư liệu của Nguyễn Huy Thắng

Ra đời và lan rộng

Hội Truyền bá quốc ngữ ra đời ngày 25-5-1938 tại hội quán thể thao An Nam (CSA) trên phố Khúc Hạo, Hà Nội, do Nguyễn Văn Tố làm hội trưởng, Bùi Kỷ – phó hội trưởng, Phan Thanh – thư ký, Quản Xuân Nam – phó thư ký, Đặng Thai Mai – thủ quỹ, Võ Nguyên Giáp – phó thủ quỹ. Cố vấn: Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Văn Huyên, Lê Thước.

Tại buổi thành lập, ngoài đông đảo quần chúng còn có Hoàng Xuân Hãn, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Văn Huyên, Phan Thanh, Hằng Phương (vợ nhà văn Vũ Ngọc Phan)… Mục đích của hội là “Dạy cho đồng bào Việt Nam biết đọc, biết viết tiếng của mình để dễ đọc được những điều thường thức cần dùng cho sự sinh hoạt hằng ngày. Cốt cho mọi người viết chữ quốc ngữ giống nhau”.

Với chương trình là mở lớp học gồm bậc sơ đẳng dạy vỡ lòng cho học viên đọc, viết chữ quốc ngữ và làm được hai phép tính cộng, trừ. Bậc cao đẳng luyện cho học viên đọc, viết thông chữ quốc ngữ và dạy thêm ít điều thường thức và bốn phép tính.

Để việc truyền bá chữ quốc ngữ nhanh chóng, hội yêu cầu những người đã được hội dạy cho biết chữ phải cố gắng dạy lại cho một số người thất học khác xung quanh mình. Hội tổ chức các cuộc diễn thuyết nhằm giảng dạy, phổ biến những điều thường thức cho đồng bào. Xuất bản sách nhằm bổ khuyết việc học ở lớp, hội chủ trương biên soạn và xuất bản loại sách thường thức phổ thông về sử ký, địa lý, vệ sinh, khoa học… phổ biến rộng rãi trong nhân dân.

Giáo sư Hoàng Xuân Hãn lúc ấy đang giảng dạy tại Trường Bưởi, đã được hội mời làm cố vấn tham gia ban tu thư. Ông chính là người soạn quyển sách học vần nổi tiếng cho hội. Những câu “I tờ hai móc cả hai. I ngắn có chấm, tờ dài có ngang. O tròn như quả trứng gà. Ô thời đội mũ, ơ là thêm râu” và “huyền ngang, sắc dọc, nặng tròn; hỏi lom khom đứng, ngã buồn… nằm ngang” (Hoàng Xuân Hãn – Nhớ lại Hội Truyền bá quốc ngữ nhân kỷ niệm 50 năm, đăng trên báo Đoàn Kết năm 1988) cho tới nay vẫn còn có người thuộc. Những câu học vần đơn giản, dễ nhớ này chỉ nghe qua đôi lần là thuộc.

Quyển học vần này cũng được tiếp tục sử dụng trong phong trào Bình dân học vụ năm 1945. Sách được hội in và phát không cho giáo viên. “Để có tiền in sách, mua giấy bút cho giáo viên và người học, ban tài chính rải khắp Hà Nội, lạc quyên những người hằng sản hằng tâm, hoặc tiền, hoặc đồ vật. Nhiều thanh niên thanh nữ tình nguyện dạy những lớp tối cho trẻ em nghèo, những lao động nam nữ thất học”. (Hoàng Xuân Hãn)

Hoạt động của hội thời kỳ đầu cũng bị thực dân theo dõi song được nhân dân ủng hộ nên phát triển lan dần từ thành thị tới nông thôn. Ngày 5-1-1939, thành lập hội ở Huế, tới năm 1943, cả Trung kỳ có hội. Và ngày 5-11-1944, Nam kỳ mới có hội do Nguyễn Văn Vĩ làm trưởng ban.

“Chữ Việt còn thì nước ta còn”

“Hội Truyền bá quốc ngữ là một trường đào tạo, giáo dục thanh niên ngoài xã hội. Một mặt nó luyện cho thanh niên những đức tính cần thiết trong cuộc sống (tinh thần đoàn thể, óc tổ chức, kỷ luật, kiên quyết hi sanh…). Mặt khác, nó giúp thanh niên tránh được những cuộc vui chơi không lành mạnh (cờ bạc, trai gái, rượu chè…).

Bên cạnh đó, cũng giúp các thanh niên trí thức có dịp tiếp xúc, đi sâu, tìm hiểu cuộc sống cơ cực của quần chúng công nông lao động. Thu hút thanh niên vào một số hoạt động xã hội do Đảng lãnh đạo”. (Hà Thị Sương – Hội Truyền bá quốc ngữ)

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, chính phủ lâm thời đảm trách công việc của Hội Truyền bá quốc ngữ với tên Bình dân học vụ với các chủ trương mục tiêu không khác trước. Ngay sau khi cách mạng thành công, Chính phủ lâm thời Dân chủ cộng hòa đã có sắc lệnh số 20 ngày 8-9-1945 do Bộ trưởng Bộ Nội Vụ Võ Nguyên Giáp ký: “Trong khi đợi lập được nên tiểu học cưỡng bách, việc học chữ quốc ngữ từ năm nay bắt buộc và không mất tiền cho tất cả mọi người (khoản 1). Hạn trong một năm, toàn thể dân chúng Việt Nam trên tám tuổi phải biết đọc và biết viết chữ quốc ngữ. Quá hạn đó, một người dân Việt Nam nào trên tám tuổi mà không biết đọc và biết viết chữ quốc ngữ sẽ bị phạt tiền (khoản 2).

Không chỉ vậy, tháng 10-1945, đích thân Bác Hồ đưa ra Lời kêu gọi chống nạn thất học có đoạn “Số người Việt Nam thất học so với số người trong nước là 95%, nghĩa là hầu hết người Việt Nam mù chữ. Như thế thì tiến bộ làm sao được?… Chính phủ đã lập một Nha Bình dân học vụ để trông nom việc học của nhân dân… Mọi người Việt Nam… phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc biết viết chữ quốc ngữ. Những người đã biết chữ hãy dạy cho người chưa biết chữ, hãy góp sức vào Bình dân học vụ” (Hồ Chí Minh – NXB Sự Thật 8-1975).

Điều này cho thấy Đảng Cộng sản VN đã quan tâm nhiều đến dân trí ngay từ lúc cách mạng chưa thành công và tiếp tục đẩy mạnh khuyến học sau khi cách mạng đã thành công.

Đến nay, đã 130 năm đi qua tính từ ngày 1-1-1882, chữ quốc ngữ trải qua bao sóng gió để trở thành thứ chữ của người Việt Nam. Dù bạn sống ở đâu trên địa cầu thì chữ quốc ngữ, chữ Việt vẫn là phần không thể thiếu trong đời sống.

Và nói như Nguyễn Văn Vĩnh đã nói “chữ Việt còn thì nước ta còn”.

Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, một hội viên của Hội Truyền bá quốc ngữ khi còn là thư ký của Sở Thuế Hà Nội, đã ghi lại:

“10-9-1938: Chiều hôm qua, 6 giờ rưỡi, Đoan và tôi đến hội Trí Tri để chứng kiến ngày mở học đầu tiên của Hội Truyền bá quốc ngữ mà chúng tôi là hoạt động hội viên. Trong các lớp học, đã chen chúc bao nhiêu người “dốt” mà vì nghèo đói không thể học được: trẻ con, người nhớn, đàn bà, kẻ áo cộc, người áo the, người áo trắng, cu li, vú em, con đòi, thợ thuyền, tấp nập vào học. Tôi cảm động khi thấy những người nhớn ấy chưa biết chữ quốc ngữ, và cái việc dìu dắt họ, mở mắt cho họ, khai thông óc cho họ, ôi nó mới đẹp đẽ làm sao! Các hội viên trong ban dạy học đi lại tấp nập, vẻ sốt sắng hiện trên nét mặt. Trong các buồng học lờ mờ ánh sáng, “học trò” ngồi, chờ và mong mỏi.

Kế chúng tôi sang chỗ dạy học. Tôi cầm tay cho học trò viết, ôi những bàn tay ghẻ lở và bẩn, và ướt át. Tôi cảm động nhất khi viết cho một con bé trông kháu khỉnh, mà hỏi nó nó không giả nhời. Chị em nó bảo rằng nó câm và nó câm thật”.

Nguyễn Huy Thắng – Thêm một số tư liệu về phong trào truyền bá quốc ngữ

TRẦN NHẬT VY

——————————————————

Kỳ 1: Hai thế kỷ và một quyết định
>>Kỳ 2: Ai học chữ Việt đầu tiên?
>> Kỳ 3: Cưỡng bách và phản kháng
>> Kỳ 4: Bước ra khỏi giáo hội
>> Kỳ 5: Báo chí tiên phong
>> Kỳ 6: Ngọn lửa Đông Kinh nghĩa thục

tuoitre.vn

130 năm thăng trầm chữ Việt – Kỳ 6: Ngọn lửa Đông Kinh nghĩa thục

Tháng Một 5, 2012 Bình luận đã bị tắt

TT – Để khơi gợi lòng yêu nước, đồng thời mở mang dân trí, kêu gọi mọi người đều được đi học, đều biết chữ, giới sĩ phu VN đã cho ra đời Đông Kinh nghĩa thục.

Lương Văn Can Ảnh tư liệu

Đây cũng là một trong những chủ đích của phong trào Duy Tân mà Nguyễn Lộ Trạch và Phan Chu Trinh trước đó đã nhắm tới, nên có thể coi Đông Kinh nghĩa thục là một phần của phong trào Duy Tân vậy.

Mở trường khai trí cho dân

Ðông Kinh nghĩa thục là tên một trường học miễn phí, sau trở thành tên một phong trào. “Trường nghĩa thục đứng đầu dạy dỗ, khắp ba mươi sáu phố Hà thành, gái trai nô nức học hành. Giáo sư tám lớp học sinh non ngàn”. Và “Trước hết phải học ngay quốc ngữ, Khỏi đôi đường tiếng, chữ khác nhau. Chữ ta, ta đã thuộc làu. Nói ra nên tiếng,viết câu nên bài. Sẵn cơ sở để khai tâm trí”. Các câu ca này xác định hoạt động của Ðông Kinh nghĩa thục và tiêu chí của phong trào.

Theo Nguyễn Hiến Lê, Ðông Kinh nghĩa thục thành lập năm 1906 theo gợi ý của Phan Chu Trinh tại nhà riêng của Lương Văn Can ở phố Hàng Ðào (Hà Nội). Lương Văn Can làm thục trưởng, Nguyễn Quyền làm giám học. Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn chịu trách nhiệm xin giấy phép. Mục đích của Ðông Kinh nghĩa thục là “mở trường khai trí cho dân”, “dạy học không lấy tiền”. “Trường sẽ dạy cả Việt văn, Hán văn, Pháp văn”, “bỏ lối học từ chương khoa cử mà chú trọng vào thường thức và thực nghiệp”, “thầy dạy không lấy tiền công”.

Trong khi chờ giấy phép, hai lớp học một nam, một nữ với sáu, bảy chục học sinh được thành lập tại nhà số 4 Hàng Ðào, Hà Nội. Sau vài tháng xin phép, tháng 5-1907 trường mới có giấy phép và số lớp cũng tăng lên độ “20 lớp với khoảng hơn 500 học sinh” (theo Nguyễn Thìn Xuân trong bài 100 năm Ðông Kinh nghĩa thục thì trường thành lập vào tháng 3-1907). Chương trình tiểu học dạy những người mới biết chữ quốc ngữ, trung học và đại học dạy những người đã thông chữ Hán hoặc muốn học chữ Pháp. Các môn học có sử ký, địa lý nước nhà, toán, vẽ, một chút khoa học.

Ðể có sách mà dạy, trường thành lập một ban tu thư để soạn sách do Phạm Tư Trực, Dương Bá Trạc, Lương Trúc Ðàm, Phương Sơn (phần soạn sách) và Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Ðôn Phục, ông cử làng Ðông Tác, Hoàng Tích Phụng (phần dịch sách). Soạn và dịch xong lại giao cho một ban khắc in và in ra hàng trăm bản để phát cho học sinh và đồng chí các nơi.

Các loại sách được dịch chủ yếu là “tân thư” như Ðại đồng thư của Khang Hữu Vi, nhất là bộ sách Ẩm Băng Thất tùng thư của Lương Khải Siêu, Mậu Tuất chính biến ký, còn có một số sách có tính cách là những tập vịnh sử, ký sự về tình hình hiện đại của Nhật Bản như Nhật Bản duy tân tam thập niên sử (bản dịch chữ Hán của La Hiếu Cao).

Nhiều tập sách nêu những tấm gương chiến đấu của các chí sĩ, các nhà hoạt động chính trị, hoạt động cách mạng của toàn thế giới cũng được các nhà nho đón đọc một cách say sưa. Có tập như Cận thế chi quái kiệt, đề cập đủ loại anh hùng, đều là những người anh hùng có công đổi mới đất nước của họ, dù đó là vua chúa hay tổng thống, giám quốc: Vua Bỉ Ðắc (Pierre le Giand) ở Nga, Hoa Thịnh Ðốn (Washington) ở Mỹ, Nã Phá Luân (Napoléon) ở Pháp, Tỉ Sĩ Mạch (Bismarck) ở Ðức…

Bộ phận soạn, viết rất nhiều các bài thơ cổ động, dùng vần điệu lục bát, nhắc nhở quần chúng về từng nhiệm vụ duy tân cụ thể. Họ có sáng kiến tìm những đầu đề hấp dẫn, khêu gợi, rất hợp với tâm lý quần chúng. Bài thơ ngắn này là Kêu hồn nước, bài ca trù gọn nhẹ kia là để hú hồn thanh niên. Ðây là bản Cáo hủ lậu văn, kia là bản Giác thế tân thanh, rồi đến những bài Khuyên học quốc ngữ, học chuyên môn, học công nghệ, học buôn bán. Kia là những bài khuyên đoàn kết, khuyên hợp quần. Tất cả những gì cần thiết cho sự đổi mới, Ðông Kinh nghĩa thục đều đề cập một cách gọn gàng, thiết thực (Chương Thâu – Phong trào Duy Tân đầu thế kỷ 20). Những bài Gọi lính tập, Tiếng gọi thanh niên thức tỉnh trước thời cuộc, hùng hồn mà súc tích.

Bài ca khuyến học quốc ngữ – Ảnh tư liệu

“Làm lòng dân náo động”

Bên cạnh việc đẩy mạnh học chữ quốc ngữ, Ðông Kinh nghĩa thục thường tổ chức sinh hoạt, học tập tuyên truyền về lịch sử nước nhà, về địa lý, toán học, cách trí, vệ sinh… Ðặc biệt ban cổ động, tuyên truyền của trường lại hô hào mọi người dân Việt Nam phải có lòng yêu nước, nhớ đến cội nguồn con Rồng cháu Tiên, phải biết đoàn kết, yêu thương, đùm bọc lấy nhau, đào tạo những con người có ích cho đất nước, dùng hàng nội hóa, bài trừ mọi hủ tục mê tín dị đoan. Ngoài việc chống tư tưởng lạc hậu, Ðông Kinh nghĩa thục còn mạnh dạn kêu gọi noi gương Nhật Bản và nền văn minh Âu Tây. Ðể truyền bá tư tưởng học thuật mới, Ðông Kinh nghĩa thục rất chú trọng tới việc học chữ quốc ngữ và làm cho chữ quốc ngữ được phát triển, dần dần thay thế chữ Nho, chữ Nôm khó học(Nguyễn Thìn Xuân – 100 năm Ðông Kinh nghĩa thục), “chê cái tục để búi tóc củ hành, móng tay lá lan, liên tưởng tới những hủ tục khác như nhuộm răng, chọn ngày tốt để tắm…” (Nguyễn Hiến Lê – Ðông Kinh nghĩa thục)

Đông Kinh nghĩa thục còn tổ chức diễn thuyết thường xuyên ở Hà Nội và các vùng xung quanh. Các buổi diễn thuyết chủ yếu là kêu gọi lòng yêu nước, đả phá hủ tục, cổ động học chữ quốc ngữ… và lời kêu gọi được hưởng ứng chính là “cắt bỏ búi tóc” lan mạnh ở Hà thành.

Thấy hoạt động của Đông Kinh nghĩa thục sau hơn một năm mỗi ngày mỗi hăng, ảnh hưởng lớn dần, chính quyền thực dân cho mở Trường Tân Quy để cạnh tranh. Trường này do Nguyễn Tái Tích, anh ruột nhà thơ Tản Đà, làm hiệu trưởng, khai giảng ngày 11-11-1907 nhưng chỉ có 50 sinh viên đăng ký học (Chương Thâu). Không cạnh tranh được, chính quyền thực dân liền đàn áp. Tháng chạp năm Đinh Mùi 1908, giấy phép của Đông Kinh nghĩa thục bị thu hồi với cái cớ “có thể làm lòng dân náo động” và nhân có nhiều cuộc nổi dậy ở nhiều nơi trong nước, thực dân bắt hầu hết những người liên quan và có quan hệ với Đông Kinh nghĩa thục đày ra Côn Đảo.

Ở miền Nam, những người đầu tiên tiếp xúc và hưởng ứng Đông Kinh nghĩa thục là Nguyễn An Khương (Khang), Nguyễn An Cư và Trần Chánh Chiếu. Các ông biết phong trào qua những bài ca yêu nước và tiếp xúc với những liên lạc viên của phong trào Đông Du từ Nhật, Thái Lan và Trung Quốc đi về trong nước. Còn Trần Chánh Chiếu biết phong trào qua con trai là Trần Văn Tuyết, từng học ở Hương Cảng (Hong Kong), mang những bản hiệu triệu bằng Hán văn của Phan Bội Châu về nước. Nhờ đó mà những bài ca ái quốc của Đông Kinh nghĩa thục được truyền bá và thu hút một số thanh niên như Trương Duy Toản, Nguyễn Háo Vĩnh, Đỗ Văn Y… Những người này sau tham gia phong trào Đông Du và được đưa qua Nhật học tập. Những vị bị đày ra Côn Đảo khoảng năm 1910 thì bị đưa đi an trí các nơi, chủ yếu là ở miền Nam. Dương Bá Trạc, Lương Văn Can bị an trí ở Nam Vang (Campuchia), Lê Đại ở Long Xuyên, Võ Hoành ở Sa Đéc…

Tuy tồn tại không lâu, hơn một năm, nhưng ảnh hưởng của Đông Kinh nghĩa thục khá lớn. Tác động của phong trào đã kích thích nhiều hoạt động khác về sau trong việc chấn hưng đất nước, đặc biệt là chấn hưng quốc ngữ.

TRẦN NHẬT VY

>>Kỳ 1: Hai thế kỷ và một quyết định
>>Kỳ 2: Ai học chữ Việt đầu tiên?
>>Kỳ 3: Cưỡng bách và phản kháng
>>Kỳ 4: Bước ra khỏi giáo hội
>>Kỳ 5: Báo chí tiên phong

_____________

Tiếp bước Đông Kinh nghĩa thục chính là phong trào truyền bá quốc ngữ, với sự xuất hiện của những tên tuổi lớn: Phan Thanh, Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Xuân Hãn…

Kỳ tới: Quốc ngữ của một nước độc lập

tuoitre.vn